Theo đó, du lịch chất lượng cao với phân khúc du khách chi tiêu nhiều, lưu trú dài ngày được ví như “đòn bẩy” để tăng trưởng bền vững. Bởi khi quy mô thị trường đã đủ lớn, thì tăng trưởng phải dựa trên “chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng”.
Chia sẻ với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, TS. Hà Văn Siêu, Phó Cục trưởng, Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, khẳng định thước đo của một điểm đến không chỉ nằm ở số lượng du khách, mà còn ở thời gian họ lưu trú, mức chi tiêu và giá trị để lại cho nền kinh tế. Với Việt Nam, bài toán nâng chất lượng du lịch vì thế không đơn thuần là phát triển thêm những sản phẩm cao cấp, mà là xây dựng một hệ sinh thái đủ sức kéo dài hành trình, mở rộng trải nghiệm và đưa nhiều hơn dòng tiền du lịch vào doanh nghiệp, địa phương và cộng đồng.
Thưa ông, ngành du lịch đang chuyển từ mục tiêu tăng số lượng khách sang thu hút du khách có mức chi tiêu cao và lưu trú dài ngày. Vậy “du lịch chất lượng cao” được định nghĩa bằng những tiêu chí cụ thể nào và ngành sẽ đo lường hiệu quả bằng chỉ số gì?
Trước hết, chúng ta cần hiểu “du lịch chất lượng cao” là một mô hình tăng trưởng tạo ra giá trị kinh tế cao hơn trên mỗi du khách, trải nghiệm tốt hơn, tác động xã hội - văn hóa - môi trường tích cực hơn và năng lực cạnh tranh bền vững hơn. Như vậy, du lịch chất lượng cao đáp ứng đồng thời 6 nhóm tiêu chí, bao gồm: giá trị kinh tế; thời gian lưu lại và mức độ tham gia của khách; chất lượng trải nghiệm; chất lượng dịch vụ; tác động tích cực văn hóa – xã hội, môi trường; và năng lực của điểm đến.
Để đo lường các tiêu chí trên không thể dùng một chỉ tiêu đơn lẻ mà gồm bộ chỉ số, trong đó thể hiện rõ rệt chuyển từ “đếm khách” sang “đo giá trị”; đó là các chỉ số về: tổng thu trên 1 khách; chi tiêu bình quân 1 ngày khách; thời gian lưu trú bình quân; giá trị gia tăng du lịch/khách; mức độ hài lòng của du khách; tỷ lệ khách quay lại; tỷ lệ chi tiêu được giữ lại tại địa phương; chỉ số bền vững của điểm đến.
Nói một cách khái quát, “du lịch chất lượng cao” không phải là du lịch dành riêng cho người có khả năng chi trả cao, mà là mô hình du lịch tạo ra giá trị cao trên mỗi du khách: lưu trú dài hơn, chi tiêu nhiều hơn, trải nghiệm tốt hơn, giá trị lan tỏa rộng hơn và tác động đến tài nguyên, văn hóa, môi trường thấp hơn.
Một trong những vấn đề của du lịch Việt Nam là thời gian lưu trú và mức chi tiêu bình quân của khách chưa tương xứng với tiềm năng. Theo ông, đâu là những nguyên nhân chính khiến du khách chưa ở lâu và chi tiêu nhiều hơn, ngành sẽ giải quyết những điểm nghẽn này như thế nào?
Theo tôi, điểm mấu chốt hiện nay không nằm chủ yếu ở việc “khách không muốn chi tiêu”, mà hệ sinh thái sản phẩm và dịch vụ chưa tạo đủ lý do để khách ở lâu hơn và mở rộng phạm vi chi tiêu. Có 5 nguyên nhân chính lý giải cho thực trạng này.
Thứ nhất, sản phẩm chưa đủ độ chín sâu. Chúng ta có tài nguyên rất phong phú nhưng nhiều nơi vẫn bán theo mô hình ăn - ngủ - nghỉ - tham quan - mua sắm - khám phá - vui chơi giải trí - check in… Trong khi đó, các sản phẩm có khả năng kéo dài thời gian lưu trú như kinh tế đêm, biểu diễn nghệ thuật, mua sắm, wellness, golf, du thuyền, MICE, thể thao, trải nghiệm văn hóa chuyên sâu… chưa phát triển tương xứng, chưa gắn kết để tạo gu trải nghiệm cao cấp.
Thứ hai, chuỗi dịch vụ tạo chi tiêu còn mỏng. Thứ ba, liên kết điểm đến và liên kết chuỗi còn yếu. Thứ tư, sản phẩm cao cấp chưa thực sự khác biệt. Chất lượng 5 sao về cơ sở vật chất chưa đủ mà cần tương ứng với trải nghiệm độc bản về văn hóa, ẩm thực, di sản, thiên nhiên, chăm sóc sức khỏe, nghệ thuật, thể thao, sự kiện… với chất lượng và dịch vụ cá nhân hóa.
Thứ năm, chúng ta chưa quản trị đầy đủ theo dữ liệu về hành vi chi tiêu. Nếu chỉ biết khách đến từ đâu và bao nhiêu lượt thì chưa đủ mà cần biết khách ở bao nhiêu đêm, tiêu tiền ở đâu, sản phẩm nào họ mua, vì sao họ rời đi, và điều gì khiến họ quay lại…
Từ những điểm nghẽn đó, du lịch Việt Nam cần tăng lý do ở lại, mở rộng không gian trải nghiệm và chi tiêu; cần thiết kế sản phẩm theo hành trình; đẩy mạnh sản phẩm du lịch đêm. Đây là một trong những chìa khóa để tăng cả lưu trú và chi tiêu. Cần hình thành các tổ hợp liên kết theo chuỗi: từ nghỉ dưỡng đến ẩm thực - mua sắm - biểu diễn - lễ hội - giải trí - văn hóa - nghệ thuật - thể thao, hoạt động liên tục và an toàn, tạo những sản phẩm biểu tượng có khả năng kéo dài chuyến đi...
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 40-2026 phát hành ngày 05/10/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://premium.vneconomy.vn/doc-thu-an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-40-2026.html
Trong vài năm trở lại đây, destination wedding (lễ cưới tại một địa điểm xa nơi cư trú, kết hợp với nghỉ dưỡng) đã trở thành một trong những xu hướng định hình lại ngành công nghiệp cưới toàn cầu…
Cùng với mở rộng thị trường, Quảng Ninh đang đổi mới cách kể câu chuyện về điểm đến. Bên cạnh di sản vịnh Hạ Long, nội dung truyền thông được mở rộng theo hướng khai thác chiều sâu văn hóa, lịch sử, con người và sự đa dạng của trải nghiệm…
Ngày 23/10, tại làng cổ Lộc Yên và Bãi Sậy – Sông Đầm, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đà Nẵng đã tổ chức chương trình công bố và trải nghiệm “Top 100 Điểm chạm Đà Nẵng” năm 2026. Sự kiện này mở ra một góc nhìn mới về du lịch Đà Nẵng...
Từ cổ tích Andersen đến kiến trúc Bắc Âu và văn hóa xe đạp, thủ đô Đan Mạch cho thấy đôi khi sức hút lớn nhất của một điểm đến ở cách nó gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa của nhịp sống chậm rãi và cân bằng...
Đà Nẵng đang nỗ lực mở rộng thị trường du lịch quốc tế thông qua việc tổ chức chương trình giới thiệu du lịch và kết nối đối tác tại Singapore, cùng với việc Vietnam Airlines vừa công bố đường bay thẳng mới Đà Nẵng - Singapore...
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.