VIS Rating vừa cập nhật triển vọng tín nhiệm Việt Nam nửa cuối năm 2026 trong đó nhấn mạnh áp lực trả nợ và tái cấp vốn sẽ gia tăng mạnh nhất đối với các doanh nghiệp có dòng tiền yếu và các kênh huy động vốn hạn chế.
Giá bán lẻ nhiên liệu trong nước tăng 19%-52% so với cùng kỳ trong bối cảnh xung đột và bất ổn tiếp diễn tại Trung Đông. CPI tăng 4,9%, và CPI bình quân 8 tháng năm 2026 tăng 4,5%. Chi phí tăng làm suy giảm dòng tiền trả nợ, trong khi lạm phát hạn chế dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ. Việc Mỹ có khả năng áp thêm thuế quan đối với hàng hóa Việt Nam là rủi ro bất lợi đối với một số nhóm doanh nghiệp xuất khẩu.
Tăng trưởng tín dụng tiếp tục cao hơn tăng trưởng huy động tiền gửi, làm gia tăng cạnh tranh trong huy động. Dự báo lãi suất cho vay sẽ duy trì ở mức cao trong thời gian tới. Chi phí lãi vay tăng làm giảm khả năng trả nợ, trong khi ngân hàng cho vay chọn lọc hơn sẽ phần nào hạn chế nguồn tái cấp vốn và tài trợ vốn lưu động cho các doanh nghiệp bất động sản có hồ sơ tín nhiệm yếu, các doanh nghiệp xuất khẩu nhỏ và các doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính.
Đầu tư công hỗ trợ các doanh nghiệp liên quan đến hạ tầng. Giải ngân đầu tư công trong 7T2026 đạt 16,3 tỷ USD, tăng 20% so với cùng kỳ, hỗ trợ các nhà thầu xây dựng, các doanh nghiệp hạ tầng và một số doanh nghiệp dịch vụ dầu khí. Các nhà thầu quy mô lớn ghi nhận tăng trưởng doanh thu mạnh hơn các nhà thầu quy mô nhỏ. Việc cải thiện hồ sơ tín nhiệm phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa tăng trưởng doanh thu thành dòng tiền.
Các doanh nghiệp tiêu dùng nội địa quy mô lớn sẽ có khả năng chống chịu tương đối tốt nhờ tăng trưởng tiêu dùng bán lẻ, khả năng dự báo doanh thu cao và mức độ biến động lợi nhuận thấp.
Các ngân hàng lớn và ngân hàng quốc doanh sẽ duy trì nguồn vốn, thanh khoản và chất lượng tài sản ổn định hơn so với các ngân hàng quy mô nhỏ, nhờ nền tảng tiền gửi vững chắc, danh mục cho vay đa dạng và tiêu chuẩn cấp tín dụng thận trọng. Đây là yếu tố giúp các ngân hàng này ứng phó với chi phí vốn gia tăng và rủi ro từ phía khách hàng vay.
Các ngân hàng có tốc độ tăng trưởng nhanh và dư nợ lớn đối với các doanh nghiệp bất động sản nhà ở chịu áp lực lớn hơn về chất lượng tài sản. Tăng trưởng cho vay cũng làm tăng nhu cầu vốn, trong khi chi phí vay cao hơn làm suy yếu khả năng trả nợ của khách hàng. Việc phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường có thể làm gia tăng chênh lệch kỳ hạn và rủi ro tái cấp vốn.
Các doanh nghiệp xuất khẩu quy mô nhỏ đối mặt với khả năng tạo tiền yếu hơn và hạn chế về các kênh huy động vốn thay thế. Các doanh nghiệp dệt may, da giày và sản phẩm gỗ chịu ảnh hưởng bởi nhu cầu bất định, nguy cơ gia tăng hàng rào thuế quan từ Mỹ, cùng chi phí năng lượng và vận tải ở mức cao. Khả năng chuyển chi phí thấp và khả năng đa dạng hóa thị trường hạn chế khiến các doanh nghiệp nhỏ dễ tổn thương hơn trước các biến động của thị trường.
Doanh số bán hàng suy yếu và chi phí lãi vay tăng làm hạn chế khả năng trả nợ của các doanh nghiệp bất động sản. Số lượng giao dịch trên toàn quốc trong Q2/2026 giảm 36%; tỷ lệ hấp thụ căn hộ sơ cấp tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh giảm xuống 73%, từ mức 95% năm 2025. Những chậm trễ trong việc triển khai dự án ảnh hưởng tới tiến độ bán hàng và bàn giao.
Rủi ro tập trung ở nhóm doanh nghiệp bất động sản có dự án chậm triển khai do vướng mắc pháp lý, dòng tiền hoạt động yếu, phụ thuộc vào thị trường thứ cấp và tái cấp vốn thông qua kênh trái phiếu.
Áp lực thanh khoản gia tăng khi lượng lớn trái phiếu sẽ đáo hạn trong thời gian tới trong khi các tổ chức phát hành đã từng chậm trả, gia hạn trái phiếu hoặc có quan hệ tín dụng với ngân hàng hạn chế có thể gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn tái cấp vốn.
Ngược lại, các doanh nghiệp có các dự án đang triển khai, tiến độ bàn giao rõ ràng và quan hệ vững chắc với ngân hàng sẽ có khả năng tiếp cận tín dụng tốt hơn.
Mặc dù vậy, theo VIS Rating, áp lực sẽ giảm bớt nếu chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động thu hẹp, chi phí vốn giảm và dòng tiền kinh doanh cải thiện.
Với doanh nghiệp bất động sản, doanh số cải thiện, vướng mắc pháp lý được tháo gỡ và tiến độ bàn giao rõ ràng hơn sẽ củng cố nguồn trả nợ. Với nhà thầu, việc đẩy nhanh đầu tư công chỉ hỗ trợ tín nhiệm nếu giúp cải thiện khả năng thu tiền.
Ngược lại, rủi ro trả nợ và tái cấp vốn sẽ tăng nếu huy động tiền gửi tiếp tục yếu, chi phí hoạt động hoặc chi phí tài chính tăng, hoặc điều kiện xuất khẩu xấu đi. Dự án tiếp tục chậm trễ và tiến độ thanh toán chậm đối với các khoản nợ đã gia hạn sẽ khiến các doanh nghiệp bất động sản yếu càng dễ tổn thương.
Chứng khoán Rồng Việt kỳ vọng Công văn 9608/NHNN-CSTT sẽ có các tác động làm lãi suất huy động giảm nhanh trong ngắn hạn và ổn định đến cuối năm, nhưng khó giảm sâu trong năm 2027 do thâm hụt huy động so với tín dụng vẫn lớn.
VN-Index kết thúc tuần 43/2026 tại 1.774,15 điểm, tăng 68,24 điểm (+4,00%) so với tuần trước, chấm dứt chuỗi 5 tuần giảm liên tiếp, với thanh khoản cải thiện nhẹ.
Giá vàng đang chịu tác động giằng co từ một bên là các nhà giao dịch đầu cơ ngắn hạn muốn tận dụng đà giảm giá để bán khống và một bên là các nhà đầu tư dài hạn vẫn duy trì nhu cầu cơ bản mạnh mẽ...
Thị trường kết thúc chuỗi 4 tuần giảm liên tiếp bằng diễn biến bất ngờ ngày 21/10 khi VN-Index đột ngột đảo chiều tăng mạnh kỷ lục kể từ đầu tháng 4/2026. Chỉ số tăng 2,8% tương đương 46,7 điểm, tạo thêm dư địa lớn cho mốc đáy ngắn hạn vừa đạt được.
VnEconomy giới thiệu nhận định và khuyến nghị đầu tư của một số công ty chứng khoán về diễn biến thị trường tuần từ 26-30/10/2026.
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.