
Năm nay sẽ là một năm mang tính chất cột mốc đối với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Ấn Độ ở nước ngoài - hãng tin Bloomberg cho hay.
Trong bối cảnh đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Ấn Độ tăng trưởng chậm, doanh nghiệp Ấn Độ từ đầu năm tới nay thâu tóm các công ty ở nước ngoài với tốc độ 2 thương vụ mỗi tuần, đồng thời tăng gấp đôi số dự án GI (greenfield investment, một dạng đầu tư FDI trong đó công ty mẹ lập công ty con để xây dựng hoạt động sản xuất - kinh doanh mới ở nước ngoài) mới.
Hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) của các công ty Ấn Độ ở nước ngoài đang trỗi dậy sau một thập kỷ im ắng, và được thúc đẩy bởi sự tăng trưởng bùng nổ của thị trường chứng khoán nước này và lượng vốn mà các công ty niêm yết huy động được đạt mức kỷ lục.
“Mức định giá cổ phiếu cao của các công ty Ấn Độ là một yếu tố nguyên nhân ở đây”, trưởng bộ phận M&A và đầu tư cổ phần tư nhân của công ty Deloitte South Asia, ông Vivek Gupta, nhận định. Ông giải thích rằng các công ty Ấn Độ đang huy động được vốn ở hệ số giá cổ phiếu/thu nhập dự phóng (P/E) rất cao, trong khi mua được tài sản tại các thị trường khác ở mức định giá thấp hơn, nhờ đó lợi nhuận được bồi đắp ngay trong ngày đầu tiên sau khi hoàn thành giao dịch.
Trong quý 3 năm nay, các thương vụ M&A ở nước ngoài của doanh nghiệp Ấn Độ đạt mức cao nhất 10 năm về số lượng, với 35 thương vụ đạt tổng trị giá 5,3 tỷ USD - theo báo cáo Dealtracker của công ty Grant Thornton. Từ đầu năm đến nay, doanh nghiệp Ấn Độ đã hoàn tất hơn 100 giao dịch M&A ở nước ngoài, chủ yếu tại thị trường Mỹ và châu Âu.
Trong số này phải kể tới một vài thương vụ lớn như vụ công ty Bharti Global của Ấn Độ mua cổ phần 24,5% trong công ty mạng viễn thông Anh BT Group Plc với giá 17 tỷ USD, hay các thương vụ trị giá hàng tỷ USD của Tata và Birla. Tuy nhiên, các thương vụ quy mô nhỏ vẫn chiếm chủ yếu.
“Các lĩnh vực đầu tư rất đa dạng, và doanh nghiệp đứng ra thâu tóm chủ yếu là các công ty tầm trung, có doanh thu từ 35-350 triệu USD”, trưởng tư vấn M&A của Grant Thornton Bharat, ông Sumeet Abrol, cho biết.
Làn sóng đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Ấn Độ bắt đầu nổi lên sau đại dịch Covid-19, ban đầu là những công ty với truyền thống thâu tóm trong các lĩnh vực như công nghệ, dược phẩm và ô tô, tiếp đó mở rộng sang các lĩnh vực mới như giáo dục, truyền thông, khách sạn, y tế và nông nghiệp. Một số ví dụ có thể kể tới như công ty Suparajit Engineering mua một công ty cáp vỡ nợ của Đức, PI Industries mua công ty Plant Healthcare của Anh, hay OYO thâu tóm công ty Motel 6 ở Mỹ…
Có trong tay nhiều lựa chọn nguồn vốn, các công ty Ấn Độ đang tìm kiếm mục tiêu thâu tóm là các doanh nghiệp có năng lực cao về công nghệ, quy trình sản xuất thông minh và sáng tạo. Ngay cả những công ty nhỏ hơn cũng cho thấy quyết tâm cao trong nỗ lực thâu tóm, thể hiện qua việc khoảng thời gian đi tới một vụ sáp nhập của những doanh nghiệp như vậy đã rút ngắn chỉ còn một nửa so với trong các chu kỳ trước - theo ông Abrol, đồng thời dự báo hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các công ty Ấn sẽ tiếp tục tăng, nhất là trong bối cảnh có nhiều mối lo về chiến tranh thương mại và nỗ lực nhằm xây dựng hoặc bảo vệ chuỗi cung ứng.
Các dự án GI của Ấn Độ ở nước ngoài cũng được dự báo sẽ lập kỷ lục trong năm nay, theo một báo cáo của FDI Intelligence. Từ đầu năm tới nay, doanh nghiệp Ấn Độ đã có hơn 400 dự án như vậy, nhiều gấp đôi so với con số hàng năm trước đại dịch. Đặc trưng của làn sóng này cũng là các dự án có giá trị nhỏ, tập trung vào lĩnh vực dịch vụ kinh doanh, và Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) đang nổi lên thành một điểm đến hấp dẫn cho các công ty Ấn Độ.
Trong quý 3, Ấn Độ lập kỷ lục 195 dự án GI trên toàn cầu, trở thành nguồn dự án GI lớn thứ năm thế giới, đứng trên Trung Quốc - theo FDI Intelligence.
Làn sóng đầu tư ra nước ngoài của các công ty Ấn Độ có thể làm dấy lên những câu hỏi về thị trường nước này ngay cả các đối với các công ty trong nước. Tuy nhiên, giới chuyên gia khăng định rằng xu hướng này không nên bị xem là đánh đổi đối với hoạt động đầu tư vào nền kinh tế Ấn Độ.
Thị trường hàng hóa và dịch vụ toàn cầu đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể về thị phần của các công ty Trung Quốc trong năm qua...
Mức thuế quan bổ sung 12,5% của Mỹ đối với hàng Trung Quốc gần tương đương với nhiều đối tác khác. Cùng với lợi thế về chi phí và chuỗi cung ứng của Trung Quốc, điều này khiến một số doanh nghiệp Mỹ cân nhắc đưa đơn hàng trở lại nước này...
Làn sóng đầu tư vào trung tâm dữ liệu AI đã giúp hai nhà sản xuất chip nhớ Trung Quốc CXMT và YMTC từ chỗ liên tục thua lỗ vươn lên nắm quyền định giá ngày càng lớn...
Số người nhập cư tăng mạnh đã phần nào bù đắp cho tình trạng sụt giảm dân số người Nhật Bản - một xu hướng đã kéo dài suốt 17 năm qua...
Các hiện tượng thời tiết cực đoan như nắng nóng, hạn hán, mưa lớn và sương giá muộn đang gây sức ép ngày càng lớn lên nông nghiệp Đức. Trước tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, ngành nông nghiệp nước này đang đẩy mạnh phát triển giống cây trồng mới, ứng dụng công nghệ và điều chỉnh phương thức canh tác nhằm duy trì năng suất và tăng khả năng chống chịu…
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Trước khi trở thành 1 trong 30 nhà nông trẻ xuất sắc được Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trao Giải thưởng Lương Định Của năm 2025, anh Lê Minh Cương đã trải qua không ít thất bại, thậm chí có thời điểm đứng trước nguy cơ phá sản. Từ một du học sinh ngành du lịch, anh đã lựa chọn trở về quê hương Thanh Hóa để khởi nghiệp với mong muốn tạo ra những sản phẩm sạch từ chính nông sản địa phương.