Cùng với đó, du lịch được định hướng phát triển theo chiều sâu, chất lượng, hiệu quả, bền vững và tạo giá trị gia tăng cao, thay vì chỉ tập trung vào mở rộng số lượng khách. Đây là một mục tiêu rất tham vọng nếu đặt trong tương quan với quy mô hiện tại.
Năm 2025, Việt Nam đón khoảng 21,2 triệu lượt khách quốc tế. Như vậy, để đạt 45 triệu lượt vào năm 2030, lượng khách quốc tế phải tăng hơn gấp đôi chỉ trong khoảng 5 năm. Tính theo tốc độ tăng trưởng kép, Việt Nam cần duy trì khoảng 16-19% tăng trưởng khách quốc tế mỗi năm trong giai đoạn 2025 - 2030, cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng trung bình 8 - 10% từng được đặt ra trong Chiến lược phát triển du lịch đến năm 2030 ban hành năm 2020.
Nếu chỉ nhìn vào số lượt khách, Việt Nam hoàn toàn có thể tập trung mở rộng thị trường, tăng đường bay, nới rộng khả năng tiếp cận điểm đến và đẩy mạnh xúc tiến để tạo ra mức tăng trưởng cao. Vấn đề khó hơn là đồng thời phải tạo ra 80 - 90 tỷ USD tổng thu từ du lịch. Điều đó đòi hỏi Việt Nam bên cạnh việc thu hút được nhiều du khách hơn còn cần giữ du khách ở lại lâu hơn, trải nghiệm nhiều hơn, sử dụng nhiều dịch vụ hơn. Quan trọng nhất là giữ lại một tỷ trọng lớn hơn trong khoản chi tiêu đó chuyển thành giá trị gia tăng trong nước.
Mục tiêu của Việt Nam càng trở nên thách thức khi đặt trong bối cảnh cạnh tranh du lịch khu vực. Việt Nam không bước vào giai đoạn 2026 - 2030 trong một thị trường mà các đối thủ đang đứng yên chờ chúng ta mở rộng. Thái Lan, Malaysia và Singapore đều đang tiếp tục điều chỉnh chiến lược để thu hút những nhóm khách có mức chi tiêu cao hơn, kéo dài thời gian lưu trú và mở rộng các nguồn thu ngoài lưu trú truyền thống.
Đáng chú ý, năng lực cạnh tranh của Việt Nam vẫn còn khoảng cách với các trung tâm du lịch hàng đầu khu vực. Theo Travel & Tourism Development Index 2024 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Việt Nam đứng thứ 59 toàn cầu, trong khi Malaysia đứng thứ 35, Thái Lan thứ 47 và Singapore thứ 13.
Việt Nam có lợi thế khá rõ về an toàn và khả năng cạnh tranh về giá, nhưng lại yếu hơn Thái Lan ở những yếu tố quan trọng như hạ tầng hàng không, mức độ mở cửa, tài nguyên tự nhiên, tài nguyên phi giải trí và ICT. So với Malaysia, khoảng cách còn thể hiện ở năng lực kinh doanh, ICT, mức độ ưu tiên cho du lịch, độ mở, hàng không, hạ tầng mặt đất và cả dịch vụ du lịch. Điều này cho thấy bài toán cạnh tranh của Việt Nam không thể giải quyết chỉ bằng quảng bá hình ảnh hay giảm giá sản phẩm.
Nói cách khác, nếu Việt Nam muốn tăng gấp hơn hai lần lượng khách quốc tế trong 5 năm, các quốc gia cạnh tranh trực tiếp cũng sẽ đồng thời nâng cấp sản phẩm, hạ tầng và khả năng thu hút khách. Vì vậy, chiến lược đến năm 2030 không thể chỉ đặt câu hỏi “làm thế nào để có thêm khách?”, mà phải trả lời câu hỏi khó hơn: “Tại sao một du khách quốc tế đã cân nhắc Thái Lan, Malaysia hoặc Singapore lại lựa chọn Việt Nam, ở lại lâu hơn và chi tiêu nhiều hơn tại Việt Nam?”
Từ góc độ đó, có thể thấy bốn hướng đi cần được đặt vào trung tâm của chiến lược, đó là:
(1) Kết nối điểm đến thành những hành trình mới thông qua hạ tầng mới
Trước hết, Việt Nam cần chuyển từ tư duy phát triển những điểm đến riêng lẻ sang hình thành các mạng lưới điểm đến có khả năng tạo ra những hành trình dài hơn. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng khi nhiều dự án hạ tầng giao thông lớn đang và sẽ làm thay đổi đáng kể khả năng kết nối giữa các trung tâm du lịch.
Đến năm 2030, diện mạo hạ tầng du lịch có thể thay đổi rất mạnh với sự xuất hiện và mở rộng vai trò của những hạ tầng trọng điểm như Cảng hàng không quốc tế Long Thành, Cảng hàng không Gia Bình, các tuyến đường sắt đô thị và liên vùng mới, trong đó có tuyến Bến Thành - Cần Giờ tại TP.HCM và dự án đường sắt tốc độ cao kết nối Hà Nội với Quảng Ninh. Khi những hạ tầng này được kết nối với các trung tâm và điểm đến hiện hữu, khả năng tổ chức không gian du lịch của Việt Nam sẽ mở rộng đáng kể so với hiện nay.
Một khách quốc tế đến Hà Nội có thể kết hợp tour Hà Nội với Ninh Bình, Yên Tử và Hạ Long trong cùng một hành trình. Từ TP.HCM, Cần Giờ có thể trở thành một phần của chuỗi trải nghiệm đô thị - biển - sinh thái. Tương tự, khi Long Thành được kết nối hiệu quả với mạng lưới giao thông và các điểm đến trong vùng, sân bay này có thể trở thành đầu mối phân phối khách tới nhiều sản phẩm du lịch và địa phương.
(2) Kết nối các dịch vụ riêng lẻ thành một chuỗi giá trị du lịch hoàn chỉnh
Nghị quyết 26 đã đặt khá rõ yêu cầu tăng cường liên kết chuỗi giá trị giữa lữ hành, vận chuyển, lưu trú, dịch vụ và sản phẩm địa phương nhằm gia tăng giá trị nội địa, nâng cao hiệu quả kinh tế tổng hợp và giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, các kênh phân phối toàn cầu và xuất khẩu tại chỗ.
Đây là một thay đổi quan trọng về tư duy: không coi du lịch chỉ là ngành khách sạn, lữ hành hay tham quan, mà phải nhìn nó như một hệ sinh thái kinh tế liên kết nhiều ngành. Chẳng hạn, một hành trình nghỉ dưỡng biển có thể đồng thời tạo thị trường cho vận tải, thủy sản, nhà hàng, sản phẩm OCOP, làng nghề, biểu diễn nghệ thuật, bán lẻ và các dịch vụ giải trí...
Khi các mắt xích này được kết nối, cùng một du khách có thể tạo ra nhiều lớp giá trị kinh tế thay vì phần lớn chi tiêu chỉ tập trung vào vé máy bay và phòng nghỉ. Đây cũng là lý do Nghị quyết 26 không chỉ nhấn mạnh các sản phẩm biển đảo và văn hóa mà còn đặt cùng một hệ thống sản phẩm MICE, mua sắm, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, giải trí và kinh tế đêm, đồng thời yêu cầu nâng cao chất lượng dịch vụ trong toàn bộ chuỗi giá trị sản phẩm du lịch.
(3) Tạo ra lợi thế cạnh tranh khó sao chép
Tuy nhiên, nếu chỉ phát triển những sản phẩm mà mọi điểm đến trong khu vực đều đang phát triển như nghỉ dưỡng biển, MICE, mua sắm, wellness, giải trí đêm hay du lịch cao cấp, Việt Nam sẽ phải cạnh tranh ngày càng trực tiếp với những quốc gia đã có thương hiệu mạnh hơn.
Lợi thế của Việt Nam nằm ở khả năng kết hợp nhiều tài nguyên mà không phải điểm đến nào cũng có cùng lúc: biển và đảo, di sản văn hóa, lịch sử, thiên nhiên, ẩm thực, đời sống cộng đồng và các đô thị đang phát triển nhanh. Điểm quan trọng là những tài nguyên đó phải được chuyển hóa thành sản phẩm mà du khách có thể mua và trải nghiệm, chứ không chỉ tồn tại dưới dạng tài nguyên.
Định hướng này cũng đã được Nghị quyết 26 đặt ra khi khuyến khích kết hợp du lịch văn hóa với điện ảnh, âm nhạc, giải trí, thời trang, công nghệ số, kinh tế sáng tạo và kinh tế đêm; đồng thời hình thành những sản phẩm biểu tượng quốc gia và chuỗi giá trị văn hóa - du lịch có khả năng cạnh tranh quốc tế.
(4) Giữ lại nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế Việt Nam
Cuối cùng, mục tiêu 80 - 90 tỷ USD đồng thời phải tăng phần giá trị được giữ lại trong nền kinh tế Việt Nam. Do đó cần mở rộng các khoản chi tiêu ngay trong nước, từ lưu trú, vận tải, ẩm thực, mua sắm đến giải trí và các dịch vụ trải nghiệm.
Chính sách hoàn thuế VAT, phát triển outlet, thanh toán quốc tế và thanh toán không tiền mặt cần được triển khai đồng bộ để khuyến khích khách chi tiêu nhiều hơn. Nghị quyết 26 cũng đã xác định rõ hướng phát triển logistics, mua sắm miễn thuế, ẩm thực, giải trí, biểu diễn nghệ thuật, kinh tế đêm và các dịch vụ cao cấp, đồng thời yêu cầu tăng cường liên kết chuỗi giá trị để gia tăng giá trị nội địa.
Một vấn đề khác là kênh phân phối. Các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là khách sạn nhỏ, cơ sở lưu trú và doanh nghiệp lữ hành, cần có khả năng bán trực tiếp cho khách quốc tế, chủ động dữ liệu khách hàng và thanh toán quốc tế, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào các nền tảng trung gian. Vì vậy, nền tảng du lịch số quốc gia nên tập trung vào kết nối dữ liệu, thanh toán và hỗ trợ doanh nghiệp bán hàng, thay vì xây dựng thêm một ứng dụng đặt phòng để cạnh tranh trực tiếp với các OTA quốc tế.
Nhìn tổng thể, chiến lược du lịch đến năm 2030 đã hình thành tư duy trục chiến lược từ “bán điểm đến” sang “bán hành trình”. Trong đó, hạ tầng mới phải tạo ra hành trình mới; các điểm đến phải kết nối thành chuỗi; các doanh nghiệp phải kết nối thành chuỗi giá trị.
Tài nguyên văn hóa, thiên nhiên và ẩm thực phải được chuyển hóa thành những trải nghiệm khó sao chép; còn công nghệ, hoàn thuế, mua sắm, thanh toán và nền tảng phân phối phải đóng vai trò công cụ. Để từ đó, doanh nghiệp Việt Nam giữ lại nhiều hơn giá trị hơn do du khách tạo ra.




Trong vài năm trở lại đây, destination wedding (lễ cưới tại một địa điểm xa nơi cư trú, kết hợp với nghỉ dưỡng) đã trở thành một trong những xu hướng định hình lại ngành công nghiệp cưới toàn cầu…
Cùng với mở rộng thị trường, Quảng Ninh đang đổi mới cách kể câu chuyện về điểm đến. Bên cạnh di sản vịnh Hạ Long, nội dung truyền thông được mở rộng theo hướng khai thác chiều sâu văn hóa, lịch sử, con người và sự đa dạng của trải nghiệm…
Ngày 23/10, tại làng cổ Lộc Yên và Bãi Sậy – Sông Đầm, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đà Nẵng đã tổ chức chương trình công bố và trải nghiệm “Top 100 Điểm chạm Đà Nẵng” năm 2026. Sự kiện này mở ra một góc nhìn mới về du lịch Đà Nẵng...
Từ cổ tích Andersen đến kiến trúc Bắc Âu và văn hóa xe đạp, thủ đô Đan Mạch cho thấy đôi khi sức hút lớn nhất của một điểm đến ở cách nó gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa của nhịp sống chậm rãi và cân bằng...
Đà Nẵng đang nỗ lực mở rộng thị trường du lịch quốc tế thông qua việc tổ chức chương trình giới thiệu du lịch và kết nối đối tác tại Singapore, cùng với việc Vietnam Airlines vừa công bố đường bay thẳng mới Đà Nẵng - Singapore...
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.