Ngày 2/7/2026, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức Hội nghị triển khai thực hiện Nghị định số 180/2026/NĐ-CP ngày 21/5/2026 của Chính phủ quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.
Phát biểu tại hội nghị, ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, nhận định việc Chính phủ ban hành Nghị định 180 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về lâm nghiệp, đồng thời hoàn thiện hành lang pháp lý để triển khai dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng trên phạm vi cả nước.
Nghị định mới quy định tương đối toàn diện về bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ, trình tự xây dựng và đăng ký dự án carbon rừng, cơ chế tiếp nhận, quản lý, sử dụng nguồn thu từ carbon rừng, cùng các quy định về kiểm tra, giám sát, báo cáo và chia sẻ thông tin.
"Nghị định sẽ tạo thêm nguồn lực cho công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, đồng thời góp phần cải thiện sinh kế của cộng đồng sống gắn bó với rừng", ông Lượng kỳ vọng.
Việc chuyển nhượng tín chỉ carbon phải bảo đảm không ảnh hưởng đến việc thực hiện các cam kết giảm phát thải quốc gia và không để một kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon bị chuyển nhượng nhiều lần.
Để triển khai hiệu quả Nghị định 180, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã trình Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định Tiêu chuẩn carbon rừng quốc gia. Đồng thời, hệ thống văn bản hướng dẫn, trong đó có Thông tư quy định phương pháp định giá carbon rừng, cũng đang được hoàn thiện để ban hành trước khi Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/7/2026.
Ông Lượng cho hay bên cạnh việc hoàn thiện cơ sở pháp lý, còn nhiều nhiệm vụ cần tiếp tục triển khai như xây dựng cơ sở dữ liệu, phân bổ kết quả giảm phát thải phục vụ thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), bảo đảm hoàn thành các cam kết quốc gia trước khi trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon rừng, đồng thời tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực cho các bên liên quan.
Giới thiệu về Nghị định số 180 của Chính phủ về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, đại diện Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cho biết Nghị định gồm 4 chương, 20 điều và 6 phụ lục, quy định toàn diện việc triển khai dự án carbon rừng, quản lý và sử dụng nguồn thu từ dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.
Một trong những điểm mới quan trọng của Nghị định là quy định về quyền carbon rừng. Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, UBND cấp tỉnh hoặc chủ rừng sẽ là đại diện chủ sở hữu đối với kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon rừng phát sinh từ các dự án do mình trực tiếp tổ chức thực hiện. Quyền này chỉ được xác lập khi chủ thể trực tiếp triển khai dự án carbon rừng, tạo cơ sở pháp lý xác định rõ chủ thể sở hữu, được cấp và chuyển nhượng tín chỉ carbon theo yêu cầu của các tiêu chuẩn carbon quốc tế.
Về quản lý và sử dụng nguồn thu, Nghị định quy định đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân, nếu chủ rừng là tổ chức thì nguồn thu từ dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng phải ưu tiên cho công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và hỗ trợ cải thiện sinh kế cho cộng đồng dân cư.
Chủ rừng cũng được sử dụng nguồn thu để xây dựng, đăng ký và triển khai dự án carbon rừng; thực hiện các hoạt động đo đạc, báo cáo, thẩm định và đề nghị cấp tín chỉ carbon. Ngoài ra, chủ rừng được phép hợp tác, liên kết với các tổ chức, cá nhân để triển khai dự án theo quy định.
Nghị định cũng quy định việc chuyển giao quốc tế kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon rừng phải tuân thủ quy định hiện hành của Chính phủ. Đến hết năm 2027, việc triển khai các dự án carbon rừng sẽ áp dụng theo Tiêu chuẩn carbon rừng quốc gia; từ ngày 1/1/2028 mới áp dụng các phương pháp do tổ chức, cá nhân xây dựng và được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công nhận.
Đối với bên cung ứng tín chỉ carbon, ngoài việc xây dựng dự án, còn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) và các nghĩa vụ tài chính khác. Kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon rừng chỉ được đưa ra giao dịch sau khi được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác nhận đủ điều kiện, nhằm bảo đảm lượng tín chỉ đưa ra thị trường không ảnh hưởng đến phần giảm phát thải ngành lâm nghiệp phải giữ lại để thực hiện cam kết quốc gia.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã giao Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm xây dựng Thông tư hướng dẫn phương pháp xác định mức chi trả và định giá carbon rừng. Hiện dự thảo Thông tư đã hoàn thiện, đang được Vụ Pháp chế thẩm định và dự kiến ban hành cùng thời điểm Nghị định 180 có hiệu lực từ ngày 15/7/2026.
Ông Vũ Tấn Phương, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Quản lý rừng bền vững (VFCC), cho biết có hai phương pháp xác định mức chi trả gồm phương pháp chi phí và phương pháp so sánh. Thông tư cũng hướng dẫn toàn bộ quy trình triển khai dự án carbon rừng, từ đăng ký, phê duyệt dự án, đo đạc, báo cáo, cấp tín chỉ carbon đến đưa tín chỉ ra thị trường và quản lý tín chỉ carbon.
Đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân, chủ rừng là tổ chức được tự thực hiện dự án hoặc hợp tác với các chủ rừng khác để xây dựng và đăng ký dự án. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh và Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng có thể đứng tên đăng ký dự án. Trong khi đó, chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư không được trực tiếp đăng ký dự án carbon rừng mà chỉ có thể tham gia thông qua hợp tác, liên kết hoặc ủy quyền cho chủ rừng là tổ chức. Đối với rừng không thuộc sở hữu toàn dân, các chủ rừng được tự thực hiện, hợp tác hoặc ủy quyền theo quy định của pháp luật.
Dự thảo cũng quy định, đối với các dự án áp dụng Tiêu chuẩn carbon rừng quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ phê duyệt các dự án thực hiện trên địa bàn từ hai tỉnh trở lên, còn UBND cấp tỉnh phê duyệt các dự án trong phạm vi một tỉnh. Hồ sơ dự án sẽ được lấy ý kiến rộng rãi của các bên liên quan, sau đó đơn vị đăng ký tiếp thu, hoàn thiện Văn kiện dự án và gửi tổ chức thẩm định độc lập theo quy định của tiêu chuẩn carbon.
Giá các mặt hàng xăng dầu trong nước đồng loạt tăng theo đà thế giới. Nguyên nhân chủ yếu do những bất ổn địa chính trị tại Trung Đông, xung đột Nga - Ukraine tiếp diễn cùng tồn kho dầu thô Mỹ giảm khiến giá nhiên liệu toàn cầu biến động...
Việt Nam giữ vị trí hàng đầu thế giới về chế biến và xuất khẩu nhân điều, nhưng lợi thế về quy mô chưa đồng nghĩa với khả năng giữ lại giá trị tương xứng. Bài toán được đặt ra không chỉ là bảo đảm nguồn nguyên liệu, mà còn phải thay đổi cách tạo giá trị, từ công nghệ chế biến đến thị trường tiêu thụ...
Việc giải quyết bài toán phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam đòi hỏi sự đồng bộ giữa quy hoạch hạ tầng, công nghệ lưu trữ, tài chính và hoàn thiện cơ chế thị trường...
Dịch bệnh, biến đổi khí hậu, yêu cầu giảm phát thải và cạnh tranh bất đối xứng đang tạo sức ép lớn lên ngành chăn nuôi. Vì vậy, đẩy mạnh khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và hợp tác quốc tế được xác định là hướng đi quan trọng để ngành phát triển bền vững...
Trước áp lực thực hiện cam kết quốc tế về phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, ngành Dầu khí bắt buộc phải tái cấu trúc và định hình chất lượng phát triển trên toàn bộ chuỗi giá trị...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.