Viên chức được tuyển dụng trước 1/7/2020 đã ký hợp đồng làm việc không xác định thời hạn thì tiếp tục thực hiện hợp đồng làm việc không xác định thời hạn.
Với việc thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, chiều 25/11, Quốc hội đã quyết định bỏ chế độ "viên chức suốt đời".
Theo báo cáo giải trình, tiếp thu của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, quá trình thảo luận có ý kiến đề nghị quy định theo hướng viên chức được tuyển dụng mới sau khi ký kết hợp đồng làm việc xác định thời hạn tối đa hai lần sẽ ký hợp đồng làm việc không xác định thời hạn để bảo vệ quyền lợi của người lao động; thu hút lao động có trình độ cao, bảo đảm công bằng trong áp dụng chế độ viên chức, tương thích với quy định của Bộ luật Lao động.
Có đại biểu đề nghị kéo dài thời hạn của hợp đồng để phù hợp hơn với tính chất công việc tương đối ổn định của viên chức và tương ứng với quy định về thời gian bổ nhiệm, thời gian thực hiện một số loại công việc.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, quy định về thực hiện chế độ hợp đồng làm việc xác định thời hạn đối với viên chức được tuyển dụng mới trong dự thảo luật là thể chế hóa nghị quyết Trung ương về "thực hiện chế độ hợp đồng viên chức có thời hạn đối với những trường hợp tuyển dụng mới (trừ các đơn vị sự nghiệp công lập ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn).
Quy định này áp dụng đối với viên chức được tuyển dụng sau ngày luật này có hiệu lực (1/7/2020), viên chức đã được tuyển dụng trước đó cơ bản không có sự thay đổi về chế độ hợp đồng làm việc so với hiện hành. Việc quy định như vậy là phù hợp với điều 240 của Bộ luật Lao động hiện hành và điều 220 của Bộ luật Lao động (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua, báo cáo nêu rõ.
Đồng thời, để góp phần bảo đảm quyền lợi của viên chức tuyển dụng mới, tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉnh lý nội dung khoản 2 điều 2 của dự thảo luật và bổ sung khoản 3 điều 2 (sửa đổi, bổ sung khoản 2 điều 28 của Luật Viên chức hiện hành về ký kết tiếp, chấm dứt hợp đồng làm việc), bổ sung khoản 10 vào điều 2 (bổ sung khoản 2a vào sau khoản 2 điều 59 của Luật Viên chức hiện hành).
Việc sửa đổi theo hướng: hợp đồng làm việc xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 60 tháng.
Đối với hợp đồng làm việc xác định thời hạn, trước khi hết hạn hợp đồng làm việc 60 ngày, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập ký kết tiếp hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc đối với viên chức.
Trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập còn nhu cầu, viên chức đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo quy định của pháp luật thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phải tiếp tục ký kết hợp đồng làm việc với viên chức.
Trường hợp không ký tiếp hợp đồng làm việc đối với viên chức thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phải nêu rõ lý do bằng văn bản.
Luật cũng quy định hợp đồng làm việc không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.
Đối với viên chức được tuyển dụng trước ngày Luật có hiệu lực thi hành (1/7/2020), khi luật có hiệu lực thì không có thay đổi về chế độ hợp đồng làm việc so với hiện hành.
Cụ thể, viên chức đã ký hợp đồng làm việc không xác định thời hạn thì tiếp tục thực hiện hợp đồng làm việc không xác định thời hạn.
Viên chức đã ký hợp đồng làm việc xác định thời hạn thì tiếp tục thực hiện hợp đồng làm việc đã ký kết; sau khi kết thúc thời hạn của hợp đồng làm việc đã ký kết thì được ký kết hợp đồng làm việc không xác định thời hạn nếu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo quy định của pháp luật.
Đối với viên chức được tuyển dụng từ ngày luật có hiệu lực thi hành ký hợp đồng làm việc xác định thời hạn trừ cán bộ, công chức được chuyển sang làm viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập khi đáp ứng các điều kiện theo quy định của luật này.
Người được tuyển dụng làm viên chức làm việc tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Luật cũng giao Chính phủ quy định chi tiết để thực hiện quy định trên.
Luật Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, chiều 25/11 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2020.




Các đại biểu cho rằng cần cụ thể hóa tiêu chí xác định cấp độ rủi ro trên cơ sở tính chất, mức độ quan trọng của dữ liệu, để bảo đảm tính khoa học, thống nhất và khả thi trong thực tiễn. Mục tiêu không chỉ là giảm số lượng thủ tục hành chính, mà phải giảm thực chất nghĩa vụ tuân thủ trùng lặp, kết hợp giữa tiền kiểm, hậu kiểm và trách nhiệm giải trình...
Đóng góp ý kiến vào dự án Luật Định danh và xác thực điện tử, Đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung quy định bảo đảm quyền tự chủ, kiểm soát danh tính điện tử của người dân, đồng thời giới hạn việc thu thập dữ liệu cá nhân và sinh trắc học ở mức tối thiểu cần thiết cho từng giao dịch có mục đích hợp pháp…
Việt Nam và Ba Lan chính thức thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược, thông qua Kế hoạch hành động giai đoạn 2026–2030, với mục tiêu đưa kim ngạch thương mại song phương đạt 6 tỷ USD vào năm 2030; mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, đầu tư, khoa học – công nghệ và chuyển đổi xanh.
Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk, hai nước nhất trí thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược, thông qua Kế hoạch hành động giai đoạn 2026-2030, đồng thời đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 6 tỷ USD vào năm 2030.
Việt Nam và Ba Lan xác định kinh tế, thương mại và đầu tư là những trụ cột trong quan hệ Đối tác chiến lược vừa được thiết lập; nhất trí tăng cường hợp tác khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và triển khai Kế hoạch hành động chung giai đoạn 2026–2030.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.