Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng Dự thảo Nghị định về Quỹ Phát triển trí tuệ nhân tạo quốc gia, nhằm cụ thể hóa quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo.
Quỹ do Chính phủ thành lập, hoạt động không vì lợi nhuận, thuộc nhóm quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý.
Trên cơ sở tiếp nhận và quản lý các nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước, cũng như các nguồn đóng góp hợp pháp từ tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, quỹ triển khai các hoạt động đầu tư, tài trợ và hỗ trợ phục vụ mục tiêu phát triển trí tuệ nhân tạo, từ nghiên cứu, phát triển đến ứng dụng và thương mại hóa.
Dự thảo quy định Quỹ có thể tài trợ tối đa 70% tổng kinh phí của một nhiệm vụ và hỗ trợ tối đa 50%, tùy theo tính chất và quy mô. Trong các trường hợp đặc biệt, mức hỗ trợ có thể do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Về mức tài trợ và hỗ trợ, dự thảo quy định Quỹ có thể tài trợ tối đa 70% tổng kinh phí của một nhiệm vụ và hỗ trợ tối đa 50%, tùy theo tính chất và quy mô. Trong các trường hợp đặc biệt, mức hỗ trợ có thể do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Đối với hoạt động hỗ trợ, các nội dung chi, bao gồm chi phí tiếp cận và sử dụng hạ tầng tính toán, dữ liệu, môi trường thử nghiệm; chi phí đánh giá, kiểm thử, bảo đảm chất lượng; chi phí tư vấn kỹ thuật, pháp lý; cũng như chi phí hoàn thiện sản phẩm và tham gia thị trường,...
Đối với hoạt động tài trợ, dự thảo tập trung vào các nhiệm vụ nghiên cứu và làm chủ công nghệ lõi.
Các nội dung tài trợ bao gồm phát triển mô hình AI, xử lý dữ liệu và ngôn ngữ, công nghệ huấn luyện và triển khai, phần cứng và vi mạch bán dẫn, công nghệ tính toán cũng như các công cụ bảo đảm an toàn và quản trị rủi ro...
Đáng chú ý, dự thảo cũng nhấn mạnh việc phát triển các giải pháp mã nguồn mở và nền tảng dùng chung, góp phần xây dựng hệ sinh thái AI nội địa.
Trong quá trình triển khai nhiệm vụ, Quỹ thực hiện đánh giá định kỳ hoặc đột xuất để làm căn cứ cấp tiếp kinh phí, điều chỉnh hoặc chấm dứt nhiệm vụ. Việc đánh giá dựa trên tiến độ, kết quả đạt được, tình hình sử dụng kinh phí và các yếu tố phát sinh.
Nội dung tài trợ bao gồm phát triển mô hình AI, xử lý dữ liệu và ngôn ngữ, công nghệ huấn luyện và triển khai, phần cứng và vi mạch bán dẫn, công nghệ tính toán cũng như các công cụ bảo đảm an toàn và quản trị rủi ro...
Kết thúc nhiệm vụ, Quỹ tiến hành đánh giá cuối kỳ, tập trung vào mức độ hoàn thành mục tiêu, chất lượng sản phẩm và hiệu quả đầu ra, bao gồm khả năng ứng dụng và đóng góp cho đổi mới sáng tạo.
Đối với nhiệm vụ đầu tư phát triển hạ tầng trí tuệ nhân tạo, dự thảo xác định đây là hoạt động mang tính chiến lược, phục vụ lợi ích công cộng và không nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Quỹ có thể đầu tư vào hạ tầng AI dùng chung, bao gồm năng lực tính toán, dữ liệu, nền tảng và mô hình AI. Đáng chú ý, các nhiệm vụ đầu tư này không áp dụng quy trình của pháp luật về đầu tư công, mà thực hiện theo cơ chế riêng nhằm bảo đảm tính linh hoạt. Nhà nước chấp nhận rủi ro trong các hoạt động này, miễn là việc triển khai tuân thủ đúng quy định.
Về tài chính, Quỹ được ngân sách nhà nước cấp vốn với tổng quy mô là 30.000 tỷ đồng (lần đầu là 1.000 tỷ đồng), được bố trí nhiều lần phù hợp với khả năng cân đối ngân sách nhà nước và yêu cầu triển khai các nhiệm vụ của Quỹ.
Ngoài ra, Quỹ có thể tiếp nhận các nguồn tài chính hợp pháp khác như tài trợ, viện trợ và thu từ hoạt động của mình.
Quỹ được hỗ trợ kinh phí hằng năm để bảo đảm duy trì mức tối thiểu 1.000 tỷ đồng tại thời điểm đầu các năm tài chính.
Một điểm đáng chú ý là Quỹ được áp dụng cơ chế tài chính đặc thù, cho phép phân bổ vốn linh hoạt, không phụ thuộc niên độ ngân sách, áp dụng thủ tục rút gọn đối với nhiệm vụ cấp bách và chấp nhận rủi ro có kiểm soát.
Chi phí của Quỹ bao gồm chi đầu tư, tài trợ, hỗ trợ và chi quản lý. Trong đó, chi quản lý được xác định theo tỷ lệ phần trăm trên tổng kinh phí giải ngân hằng năm, bảo đảm tính tự chủ tài chính. Quỹ cũng được phép sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để gửi ngân hàng, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Quỹ có trách nhiệm báo cáo định kỳ về tình hình thu chi và công khai tài chính, đồng thời có thể thuê kiểm toán độc lập để kiểm tra việc sử dụng kinh phí.




Các đại biểu cho rằng cần cụ thể hóa tiêu chí xác định cấp độ rủi ro trên cơ sở tính chất, mức độ quan trọng của dữ liệu, để bảo đảm tính khoa học, thống nhất và khả thi trong thực tiễn. Mục tiêu không chỉ là giảm số lượng thủ tục hành chính, mà phải giảm thực chất nghĩa vụ tuân thủ trùng lặp, kết hợp giữa tiền kiểm, hậu kiểm và trách nhiệm giải trình...
Đóng góp ý kiến vào dự án Luật Định danh và xác thực điện tử, Đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung quy định bảo đảm quyền tự chủ, kiểm soát danh tính điện tử của người dân, đồng thời giới hạn việc thu thập dữ liệu cá nhân và sinh trắc học ở mức tối thiểu cần thiết cho từng giao dịch có mục đích hợp pháp…
Dự thảo Luật An ninh dữ liệu quy định 5 cấp độ rủi ro an ninh dữ liệu; chủ quản dữ liệu tự xác định cấp độ, áp dụng biện pháp bảo vệ tương xứng và chịu trách nhiệm về kết quả xác định, theo cơ chế hậu kiểm là chủ yếu…
Trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Việt Nam và Ấn Độ thảo luận sáu nhóm lĩnh vực hợp tác, từ phát triển nhân lực, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn đến công nghệ khí hậu, y tế và kết nối đầu tư…
Dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử quy định nguyên tắc công nhận lẫn nhau đối với danh tính điện tử, kết quả xác thực của nước ngoài để sử dụng trong giao dịch xuyên biên giới; sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan của Luật Giao dịch điện tử, Luật Căn cước, Luật Chuyển đổi số, Luật Thương mại điện tử và Luật Đầu tư để bảo đảm thống nhất trong hệ thống pháp luật...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.