TS. Trần Thu Quỳnh, Tham tán Thương mại, Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Canada, nhấn mạnh về cơ hội hợp tác giữa Canada và Việt Nam trong chiến lược phát triển điện hạt nhân tại Hội thảo quốc tế “Điện hạt nhân quy mô nhỏ: Giải pháp chiến lược cho an ninh năng lượng Việt Nam” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy phối hợp cùng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam tổ chức ngày 11/5.
Theo bà Quỳnh, Canada hiện không chỉ xem điện hạt nhân là lời giải cho an ninh năng lượng và mục tiêu giảm phát thải, mà còn xem đây là một ngành công nghiệp chiến lược, có tiềm năng xuất khẩu lớn và đóng vai trò động lực tăng trưởng kinh tế mới.
“Với kinh nghiệm nghiệm 80 năm vận hành công nghệ hạt nhân riêng, Canada không chỉ có công nghệ, mà còn sở hữu hệ sinh thái công nghiệp, nguồn uranium, kinh nghiệm đào tạo và năng lực vận hành”, bà Quỳnh nhấn mạnh.
Quốc gia này hiện đang đẩy mạnh đầu tư cho nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực hạt nhân, với nguồn vốn lên tới hàng tỷ USD nhằm xây dựng hạ tầng nghiên cứu hiện đại, phát triển vật liệu hạt nhân tiên tiến cũng như các giải pháp xử lý, quản lý chất thải phóng xạ...
TS. Trần Thu Quỳnh đánh giá hệ sinh thái năng lượng hạt nhân hiện được phát triển đồng bộ của Canada cho thấy nước này là đối tác phù hợp và giàu tiềm năng đối với Việt Nam. Không chỉ có thế mạnh về công nghệ, Canada còn sở hữu kinh nghiệm lâu năm trong đào tạo nhân lực, vận hành nhà máy, quản lý an toàn và triển khai các giải pháp kỹ thuật cho ngành công nghiệp hạt nhân.
Trong nhiều thập niên, quốc gia Bắc Mỹ này đã xây dựng vị thế riêng trong ngành công nghiệp hạt nhân toàn cầu nhờ công nghệ lò phản ứng CANDU (Canada Deuterium Uranium) – công nghệ lò nước nặng áp lực sử dụng uranium tự nhiên.
Không dừng ở đó, Canada còn sở hữu chuyên môn sâu trong nhiều lĩnh vực liên quan như nghiên cứu vật liệu hạt nhân, thiết kế lò phản ứng, đào tạo nhân lực, quản lý an toàn, xử lý chất thải phóng xạ và phát triển chuỗi cung ứng công nghiệp.
Ngoài những tiến bộ trong lò phản ứng CANDU, Canada cũng đang đầu tư vào các công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR). Quốc gia Bắc Mỹ này hiện là quốc gia G7 đầu tiên triển khai thực tế dự án điện hạt nhân sử dụng công nghệ SMR.
Tuy nhiên, bà Quỳnh cũng chỉ ra những thách thức thực tế mà nước này đang đối mặt. Chẳng hạn, dự án SMR tại Ontario đã xuất hiện tình trạng chậm tiến độ và đội vốn đáng kể. Ban đầu, mỗi lò phản ứng được kỳ vọng chỉ tiêu tốn khoảng 1 tỷ USD. Tuy nhiên đến nay, chi phí thực tế đã tăng lên khoảng 7 lần.
“Một trong những quan ngại lớn là giá thành điện thực tế từ SMR hiện chưa chênh lệch nhiều so với các lò phản ứng quy mô lớn truyền thống”, bà Quỳnh chia sẻ. Theo bà, đây là điểm mà các quốc gia như Việt Nam cần đặc biệt cân nhắc khi xây dựng chiến lược phát triển điện hạt nhân trong tương lai.
Dù vậy, Canada vẫn kiên định với chiến lược đầu tư dài hạn cho SMR. Hiện nhiều tỉnh bang khác của Canada như Saskatchewan, Alberta hay New Brunswick cũng đang thúc đẩy kế hoạch phát triển điện hạt nhân, trong đó có các dự án SMR. Lợi thế địa lý rộng lớn, dân cư phân tán và nhu cầu điện tại các vùng xa khiến SMR được xem là giải pháp phù hợp với Canada.
Theo TS. Trần Thu Quỳnh, định hướng của Canada không đơn thuần là xây dựng vài nhà máy điện hạt nhân. Mục tiêu lớn hơn là hình thành một hệ sinh thái công nghiệp hạt nhân toàn diện, nơi Canada giữ vai trò trung tâm trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Một thỏa thuận đáng chú ý là hợp tác trị giá khoảng 1 tỷ USD giữa Canada và Ba Lan để phát triển các cấu phần SMR sản xuất tại Ontario. Bên cạnh đó, Canada còn mở rộng cung cấp các gói tài chính và tín dụng hỗ trợ các quốc gia phát triển điện hạt nhân. Romania cũng từng nhận được gói tín dụng lên tới 3 tỷ USD từ Canada cho các dự án hạt nhân. Ba Lan hiện cũng đang đàm phán để tiếp cận nguồn vốn tương tự.
TS. Trần Thu Quỳnh cũng thông tin nhiều quốc gia Đông Nam Á như Singapore, Indonesia, Philippines và Thái Lan hiện đã chủ động tiếp cận Canada để tìm kiếm cơ hội hợp tác trong lĩnh vực điện hạt nhân. Chính phủ Canada hiện đã triển khai chương trình đào tạo dành cho các quốc gia Đông Nam Á trong lĩnh vực hạt nhân, trước mắt tập trung vào Philippines và Thái Lan.
Các chương trình này không chỉ đào tạo kỹ sư mà còn hướng tới xây dựng đội ngũ “đào tạo viên”, giúp các quốc gia hình thành năng lực đào tạo nội địa lâu dài.
“Chúng tôi đang tìm cách tiếp cận các nguồn hỗ trợ tương tự để tăng cường năng lực đào tạo của các trường đại học Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử”, TS. Quỳnh chia sẻ.
Theo bà, việc phát triển điện hạt nhân không thể chỉ tập trung vào câu chuyện công nghệ, mà cần đi cùng năng lực quản lý, đào tạo nhân lực và hệ thống pháp lý.
Bà cho rằng Việt Nam cần ưu tiên xây dựng năng lực và khung pháp lý trước khi bước vào giai đoạn lựa chọn công nghệ. Đây chính là lĩnh vực mà Canada có thể hỗ trợ hiệu quả cho Việt Nam. Canada hiện sở hữu kinh nghiệm nhiều thập niên trong xây dựng tiêu chuẩn an toàn, vận hành nhà máy, quản lý nhiên liệu và đào tạo nhân lực.
Dù còn nhiều thách thức, TS. Trần Thu Quỳnh đánh giá Canada vẫn là đối tác rất phù hợp với Việt Nam trong lĩnh vực điện hạt nhân. Không chỉ có công nghệ và nguồn uranium lớn, Canada còn sở hữu kinh nghiệm đào tạo, quản lý an toàn, vận hành và khả năng hỗ trợ tài chính.
Đáng chú ý, nhiều công nghệ hạt nhân quan trọng hiện nay cũng đang có sự tham gia sâu của các doanh nghiệp Canada. Từ cuối năm 2023, Westinghouse, doanh nghiệp sở hữu công nghệ AP1000 nổi tiếng của Mỹ, đã được các tập đoàn Canada mua lại. Điều này cho thấy Canada đang mở rộng ảnh hưởng đáng kể trong ngành công nghiệp hạt nhân toàn cầu.
Theo bà, trong bối cảnh Việt Nam đang tìm kiếm các giải pháp đảm bảo an ninh năng lượng dài hạn và giảm phát thải carbon, hợp tác với Canada trong lĩnh vực điện hạt nhân có thể trở thành bước nâng cấp tự nhiên trong quan hệ song phương, đồng thời giúp Việt Nam xây dựng năng lực nội tại và từng bước tham gia vào một ngành công nghiệp có giá trị chiến lược toàn cầu.
Dữ liệu giao dịch blockchain dù được công khai, nhưng danh tính của người nắm giữ tài sản giao dịch lại không dễ xác định...
Trung Quốc cảnh báo, thanh lý thiết bị công nghiệp không đúng cách có thể làm lộ bí mật thương mại, dữ liệu về hạ tầng trọng yếu và thông tin nhạy cảm liên quan đến an ninh quốc gia, ngay cả khi dữ liệu đã bị xóa hoặc ổ cứng được định dạng...
Từ các buôn làng, vùng trồng sầu riêng ở Tây Nguyên, nông sản địa phương đang được đưa đến người tiêu dùng trên cả nước thông qua các phiên livestream trên sàn thương mại điện tử, mở thêm kênh tiêu thụ trong mùa thu hoạch cao điểm cuối năm 2026...
Rời công việc ổn định tại Hà Nội để trở về quê hương Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang, chị Lưu Thị Hòa (sinh năm 1993), người dân tộc Cờ Lao, lựa chọn khởi nghiệp từ nông sản bản địa. Bằng việc liên kết sản xuất với người dân, ứng dụng khoa học, công nghệ và mở rộng bán hàng trực tuyến, chị từng bước đưa đặc sản vùng cao đến với thị trường rộng lớn hơn, tạo thêm sinh kế cho người dân địa phương...
Theo báo cáo “Vietnam industrial robotics market size, share & forecast” giai đoạn 2026 - 2031, thị trường robot công nghiệp Việt Nam đạt 112 triệu USD năm 2025, và được dự báo tăng trưởng kép hằng năm (CAGR) 12,88% trong giai đoạn 2026-2031…
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Với thông điệp “Cà phê Hòa bình - Make coffee not war”, chuỗi hoạt động “Theo dấu chân 100 năm Cà phê Khe Sanh” kết nối những giá trị lịch sử, văn hóa và nông nghiệp. Đây cũng là dịp để Quảng Trị phát huy tiềm năng du lịch nông nghiệp, đưa câu chuyện cà phê trở thành điểm nhấn trong hành trình khám phá miền Tây của tỉnh.