
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội vừa có văn bản trả lời kiến nghị của cử tri liên quan đến mức đóng bảo hiểm xã hội.
Cử tri phản ánh, hiện nay mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc quá cao (32%) và đề nghị nghiên cứu giảm mức đóng xuống 25%.
Theo quy định hiện hành, tổng tỷ lệ đóng các loại bảo hiểm (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp) của người lao động và người sử dụng lao động là 32%. Trong đó, bảo hiểm xã hội bắt buộc là 25,5% (người lao động 8%, người sử dụng lao động 17,5%), bảo hiểm y tế là 4,5% (người lao động 1,5%, người sử dụng lao động 3%), bảo hiểm thất nghiệp là 2% (người lao động 1%, người sử dụng lao động 1%).
Về nội dung này, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho biết, mức đóng bảo hiểm xã hội được tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng, toàn diện trong mối quan hệ tương quan phù hợp với mức hưởng; tương quan với giá trị thực tế của mức đóng, mức hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội; tương quan giữa thời gian đóng và thời gian hưởng, mức độ bao phủ của các chế độ bảo hiểm xã hội.
Về số tương đối, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội cao, tuy nhiên, tỷ lệ hưởng lương hưu ở Việt Nam cao nhất khu vực, thậm chí cao nhất thế giới.
Hiện nay, tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa của Việt Nam là 75% tương ứng với thời gian đóng bảo hiểm xã hội 30 năm đối với nữ, 35 năm đối với nam, trong khi các nước chỉ khoảng 40% (Trung Quốc, Hàn Quốc).
Như vậy, tỷ lệ tích lũy hiện nay bình quân là 2,14% đối với nam và 2,5% đối với nữ, trong khi các nước như Trung Quốc và Hàn Quốc tỷ lệ này chỉ là 1%; bình quân của thế giới cũng chỉ khoảng 1,7%.
Do đó, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho rằng, việc đặt vấn đề giảm tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội đồng nghĩa với việc phải giảm tỷ lệ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội (lương hưu), dẫn đến giá trị thực mức hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội của người lao động còn thấp hơn so với hiện hành. Vì vậy, giảm tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội không phù hợp với điều kiện, bối cảnh thực tiễn của Việt Nam hiện nay.
Mặc dù, tỷ lệ đóng, tỷ lệ hưởng hưởng lương hưu cao nhưng với tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không cao, nên phần lớn người lao động sau khi về hưu có mức lương hưu thấp.
Vấn đề này có một phần nguyên nhân do tình trạng nhiều doanh nghiệp “lách luật” thực hiện đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động không đúng với mức tiền lương, thu nhập thực tế của người lao động. Tại một số đơn vị, thu nhập để làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động luôn ở mức thấp nhất, dẫn đến mức hưởng bình quân của người lao động sẽ thấp khi nghỉ hưu.
Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành quy định, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động bao gồm cả lương và các phụ cấp. Đối với một số khoản phúc lợi người lao động có tính chất thường xuyên, ổn định, như hỗ trợ tiền xăng xe, điện thoại, ăn trưa, tiền nhà…, thì pháp luật hiện hành quy định không dùng làm căn cứ tính đóng bảo hiểm xã hội.
Do đó, tại dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) vừa được Chính phủ hoàn thiện đã đề xuất tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với khu vực doanh nghiệp bao gồm mức lương, phụ cấp lương, các khoản bổ sung khác được trả thường xuyên và ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Báo cáo thẩm tra nội dung này của Ủy ban Xã hội của Quốc hội đánh giá đây là quy định rất tiến bộ trong việc xác định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động, đặc biệt dự thảo Luật đã bổ sung yếu tố “thường xuyên và ổn định” làm căn cứ xác định tiền lương đóng bảo hiểm xã hội.
Tuy nhiên, Ủy ban Xã hội cũng đề nghị Chính phủ bổ sung thêm các đánh giá, lập luận làm căn cứ đề xuất thành phần tiền lương tham gia bảo hiểm xã hội để có cơ sở xem xét, quyết định.
Đặc biệt, trong trường hợp trả lương theo giờ, ngày, tuần thì cần làm rõ cách xác định “lương tháng” để làm căn cứ tính tiền lương đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc như thế nào, trường hợp tiền lương theo giờ, ngày, tuần khi tính thành lương tháng mà thấp hơn quy định về mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội thấp nhất thì xử lý ra sao.
Cơ quan thẩm tra của Quốc hội cũng đề nghị nghiên cứu, cân nhắc bổ sung nội dung quy định về các chế độ, phúc lợi không được tính làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội theo hướng, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không bao gồm tiền thưởng theo quy định của Bộ luật Lao động; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ và các chế độ, phúc lợi khác theo quy định của Chính phủ.




Bộ Y tế đề xuất sửa đổi, bổ sung mức tiền phạt cụ thể đối với hành vi vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm, theo hướng xác định rõ mức phạt tiền tối đa là 1 tỷ đồng đối với cá nhân, và 2 tỷ đồng đối với tổ chức…
Bộ Nội vụ đề nghị các doanh nghiệp phái cử lao động, thực tập sinh sang Nhật Bản khẩn trương rà soát, nắm tình hình số lao động đang làm việc bị ảnh hưởng để sẵn sàng có các biện pháp ứng phó và hỗ trợ kịp thời trong mọi tình huống...
Thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong năm 2025 và đến hết 6 tháng đầu năm 2026, đã có nhiều trường hợp được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám, chữa bệnh lên tới hàng tỷ đồng, góp phần giúp người bệnh yên tâm điều trị và giảm bớt gánh nặng kinh tế...
Hệ thống pháp luật về đê điều đang tiếp tục được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Các quy định mới tập trung phân cấp, đơn giản hóa thủ tục, tăng cường bảo vệ hành lang đê và nâng cao hiệu quả phòng, chống lũ, bảo đảm an toàn hệ thống đê điều...
Ngày 29/7/2026, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam và Hiệp hội Sách giáo dục và Học liệu điện tử Việt Nam đã kí kết Thỏa thuận hợp tác về phối hợp rà soát, đánh giá chuyên môn và hoàn thiện sách điện tử, sách số, học liệu số, qua đó góp phần xây dựng hệ sinh thái học liệu số chất lượng, hiện đại và đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục.
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.