
Ngày 14/12, Bộ Công Thương (Cục Xúc tiến thương mại) tổ chức Hội nghị triển khai Quyết định 1968/QĐ-TTg ngày 22/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động xúc tiến thương mại giai đoạn 2021 – 2030” (Đề án 1968) và định hướng, tham gia xây dựng và vận hành Hệ sinh thái xúc tiến thương mại số với các bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Theo bà Nguyễn Thị Minh Thúy, Giám đốc Trung tâm Ứng dụng Công nghệ thông tin xúc tiến thương mại (INTEC) (Cục Xúc tiến thương mại), đề án xây dựng với mục tiêu tổng quát nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng và hiệu quả trong hoạt động của các cơ quan xúc tiến thương mại thuộc Chính phủ, tổ chức hỗ trợ xúc tiến thương mại và doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trên cơ sở hình thành, phát triển Hệ sinh thái xúc tiến thương mại số.
Cụ thể, phấn đấu đến năm 2025 xây dựng, hình thành hệ sinh thái xúc tiến thương mại số với 100% các tổ chức xúc tiến thương mại và trên 200.000 doanh nghiệp được cấp tài khoản trên hệ sinh thái xúc tiến thương mại số. 50% trong số này có phát sinh giao dịch và chia sẻ thông tin.
Cơ sở dữ liệu chuyên ngành xúc tiến thương mại và 10 ngành hàng xuất khẩu chủ lực được hình thành, kết nối, liên thông với cơ sở dữ liệu của 10 thị trường xuất khẩu trọng điểm.
25% các dịch vụ kết nối thị trường được tổ chức trên nền tảng kết nối, hỗ trợ 100.000 lượt doanh nghiệp và 25% số lượng hội chợ, triển lãm được tổ chức trên môi trường số.
100% các tổ chức xúc tiến thương mại và trên 100.000 lượt doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh được tập huấn, hướng dẫn, hỗ trợ các nội dung về ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động xúc tiến thương mại và bảo đảm an toàn thông tin.
100% thủ tục hành chính lĩnh vực xúc tiến thương mại đủ điều kiện được triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 và tích hợp trên Cổng dịch vụ công quốc gia với 90% doanh nghiệp hài lòng về kết quả giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.
Đặc biệt, đề án phấn đấu đến năm 2030, hoàn thiện, phát triển hệ sinh thái xúc tiến thương mại số; 75% các tổ chức xúc tiến thương mại và doanh nghiệp được cấp tài khoản thường xuyên hoạt động, tìm kiếm, cung cấp, chia sẻ thông tin trên hệ sinh thái xúc tiến thương mại số.
50% các dịch vụ kết nối thị trường của doanh nghiệp được thực hiện trên hệ sinh thái xúc tiến thương mại số, hỗ trợ 1.000.000 lượt doanh nghiệp.
Cơ sở dữ liệu chuyên ngành xúc tiến thương mại và 20 ngành hàng xuất khẩu chủ lực được hoàn thiện, mở rộng kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu của 20 thị trường xuất khẩu trọng điểm. 60% số lượng hội chợ, triển lãm được tổ chức trên môi trường số…
Theo ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến Thương mại, điểm nhấn và cũng là trọng tâm của Đề án đó là thiết kế, xây dựng và vận hành hiệu quả hệ sinh thái xúc tiến thương mại số.
Hệ sinh thái Xúc tiến thương mại số là kết cấu hạ tầng mềm, do Chính phủ đầu tư, phát triển gồm các nền tảng cơ bản dùng chung cho nền kinh tế như hội chợ, triển lãm số; kết nối giao thương thông minh; tư vấn-huấn luyện trực tuyến…
Hệ sinh thái xúc tiến thương mại số được thiết kế theo kiến trúc tổng thể, thống nhất, phù hợp với Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam.
Là đơn vị được Bộ Công Thương giao nhiệm vụ xây dựng và triển khai Đề án 1968, ông Phú cho biết, Cục Xúc tiến Thương mại đang từng bước phối hợp với các đối tác và các nhà tư vấn xây dựng hướng dẫn cho các tổ chức, đơn vị triển khai Đề án hiệu quả.
Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả hệ sinh thái xúc tiến thương mại số, Bộ Công Thương đề xuất các bộ, ngành và địa phương cùng tập trung xây dựng kế hoạch triển khai Đề án theo từng năm và theo giai đoạn của Đề án. Các hoạt động trong khuôn khổ Đề án cần triển khai đồng bộ trên cả nước để đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm chi phí đầu tư.
Bên cạnh đó, các địa phương có cơ chế khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia; khuyến khích, hỗ trợ cho các tổ chức cung cấp dịch vụ liên quan trên địa bàn tham gia hệ sinh thái này.
Doanh nghiệp chủ động lên kế hoạch, chuẩn bị nguồn nhân lực để tham gia. Các công ty công nghệ thông tin và chuyển đổi số hưởng ứng, tham gia tích cực, có trách nhiệm, đóng góp cùng xây dựng hệ sinh thái xúc tiến thương mại số từng bước vận hành hiệu quả.




Nhìn lại 6 năm thực thi EVFTA, hành lang kinh tế song phương không chỉ ghi nhận những con số kỷ lục về kim ngạch thương mại mà còn chứng minh tầm vóc của một mô hình hợp tác bổ trợ sâu sắc, tạo đòn bẩy bền vững cho cả hai bên...
Vượt qua những áp lực lớn về chi phí và điều kiện sản xuất, 7 tháng năm 2026, TKV đạt lợi nhuận 3.567 tỷ đồng. Đáng chú ý, với sản lượng hơn 26 triệu tấn than cấp cho sản xuất điện, Tập đoàn tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia...
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GRDP bứt phá trong nửa cuối năm 2026, Hà Nội đang tập trung giải bài toán cốt lõi: kết nối nhu cầu thị trường với công nghệ đột phá, giúp cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) ứng dụng AI và thương mại điện tử nhằm nâng cao sức cạnh tranh và tạo ra năng lực sản xuất mới...
Kết thúc nửa đầu năm 2026, Vinatex ghi nhận doanh thu thuần hợp nhất 9.494 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế đạt 930,4 tỷ đồng, tăng 39,5% so với cùng kỳ năm trước...
Sự hiện diện của các sản phẩm OCOP và đặc sản xứ Lạng tại Không gian 62 Tràng Tiền không chỉ mang đến trải nghiệm ẩm thực độc đáo cho người dân Thủ đô, mà còn tạo sức bật mạnh mẽ cho hàng Việt thông qua sự kết hợp giữa trưng bày trực tiếp và livestream thương mại điện tử...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.