Tại “Diễn đàn Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh” ngày 23/9/2026, TS Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh, nhận định trong bối cảnh hiện nay, thương hiệu không còn đơn thuần là dấu hiệu nhận diện, mà đây là tài sản chiến lược vô hình, thước đo sống còn quyết định vị thế, uy tín và giá trị của doanh nghiệp trên thương trường.
Bên cạnh đó, sự bứt phá của quá trình chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) đang tái định hình lại toàn bộ sân chơi kinh tế. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu cấp thiết, buộc các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới tư duy, tích hợp công nghệ vào quản trị và xây dựng chiến lược thương hiệu bài bản để kiến tạo đà phát triển bền vững.
Phân tích sâu hơn về mối quan hệ giữa công nghệ và thương hiệu, ông Trần Lê Hồng, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa 4 yếu tố: đổi mới sáng tạo, năng lực công nghệ, giá trị thương hiệu và lợi thế cạnh tranh quốc gia. Các yếu tố này vận hành như một hệ thống có trật tự nhân quả và có các vòng phản hồi, nếu thiếu một mắt xích thì ba mắt xích còn lại không chuyển hóa thành thu nhập.
"Nếu một doanh nghiệp sở hữu cả công nghệ mạnh lẫn thương hiệu mạnh, giống như “hổ mọc thêm cánh”. Vị thế này giúp các tập đoàn hàng đầu thu siêu lợi nhuận, từ đó tái đầu tư cho nghiên cứu và phát triển để tiếp tục thống trị công nghệ. Ngược lại, nếu doanh nghiệp sở hữu thương hiệu mạnh nhưng để tuột mất năng lực công nghệ cốt lõi theo xu hướng thời đại, họ sẽ rơi vào tình cảnh sống bằng quá khứ", ông Hồng cảnh báo.
Bài học lịch sử từ các tên tuổi như Nokia hay Kodak - những thương hiệu từng “vang bóng một thời”, khi công nghệ không theo kịp xu hướng, thương hiệu dần biến mất. Đây là minh chứng rõ nét cho việc thương hiệu toàn cầu cũng không thể cứu vãn một nền tảng công nghệ lạc hậu.
Ở một góc độ khác, nhiều đơn vị sở hữu công nghệ mạnh nhưng thương hiệu yếu lại mắc kẹt trong cái bẫy gia công cao cấp. Ông Hồng dẫn chứng trong lĩnh vực về công nghệ bán dẫn trường hợp của TSMC - doanh nghiệp hàng đầu trong gia công chip hay Foxconn, đều những đơn vị nắm giữ công nghệ chế tạo hay năng lực sản xuất hàng đầu thế giới, nhưng không trực tiếp thể hiện giá trị của mình ở trên thị trường một cách rõ ràng, mà chỉ thông qua những doanh nghiệp khác, ví dụ như là Apple. Vì vậy, giá trị biểu tượng và biên lợi nhuận cao nhất trên thị trường tiêu dùng vẫn thuộc về các tập đoàn nắm giữ thương hiệu như Apple.
Cuối cùng, trường hợp nguy hại nhất là khi doanh nghiệp yếu cả về công nghệ lẫn thương hiệu. Họ phải chấp nhận vòng quẩn quanh ở đáy chuỗi giá trị, chủ yếu gia công với biên lợi nhuận mỏng dính, không đủ nguồn lực tái đầu tư và mãi chịu cảnh phụ thuộc.
Lấy dẫn chứng như ngành cà phê. Trước đây, các quốc gia trồng cà phê xuất khẩu thô giữ lại được khoảng 20% giá trị bán lẻ. Tuy nhiên, khi cơ chế hạn ngạch chấm dứt và thị trường chuyển sang cạnh tranh tự do, phần lớn giá trị thương mại hiện nay đều chảy về túi các quốc gia nhập khẩu, nắm giữ công nghệ rang xay và mạng lưới bán lẻ. Hơn 90% sáng chế liên quan đến ngành cà phê đều tập trung ở khâu chế biến và phân phối, không nằm ở khâu trồng trọt.
Thực trạng này lặp lại tương tự trong ngành công nghiệp điện tử hiện đại. Đối với một sản phẩm công nghệ cao như chiếc điện thoại thông minh iPhone, tập đoàn Apple nắm giữ phần lớn giá trị bán lẻ dưới dạng lợi nhuận gộp. Trong khi đó, toàn bộ chi phí nhân công lắp ráp tại các công xưởng gia công lớn chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trên tổng giá trị sản phẩm. Điều này chứng minh một thực tế rằng bên nào nắm giữ công nghệ lõi, sở hữu trí tuệ và thương hiệu thì bên đó sẽ thao túng phần lớn giá trị kinh tế.
Nhìn lại bức tranh kinh tế Việt Nam, ông Hồng ghi nhận những điểm sáng về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu liên tục thăng hạng và giá trị thương hiệu quốc gia được đánh giá cao.
Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, sức mạnh thương hiệu của các doanh nghiệp nội địa lại vô cùng khiêm tốn. Tổng giá trị thương hiệu của 100 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam cộng lại vẫn chưa bằng một nửa giá trị thương hiệu của riêng Tập đoàn Samsung.
Việt Nam tự hào có quy mô xuất khẩu lớn về hàng điện tử, máy tính, linh kiện hay nông sản, nhưng phần lớn quy mô này vẫn nằm ở khâu lắp ráp và gia công thô. Năng lực thiết kế, khả năng làm chủ công nghệ lõi và dư địa sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Tình trạng xuất khẩu quy mô lớn nhưng giá trị giữ lại thấp chính là căn nguyên khiến nền kinh tế chịu nhiều rủi ro.
Để thoát khỏi bẫy gia công, ông Hồng cho rằng Việt Nam cần thực hiện những bước chuyển dịch chiến lược mang tính căn cơ. Trước hết, chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) cần được nâng lên mức thiết thực và đi vào chiều sâu, xuất phát từ nhu cầu đổi mới nội tại của chính doanh nghiệp. Đưa mục tiêu chi R&D đạt 2% GDP về đúng cấu trúc nguồn vốn. Nghị quyết 57-NQ/TW đặt mục tiêu chi R&D đạt 2% GDP vào năm 2030 với hơn 60% đến từ xã hội, cùng yêu cầu bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hàng năm cho khoa học công nghệ.
Bên cạnh đó, chính sách thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài phải thay đổi theo hướng chủ động lựa chọn các dự án chất lượng cao, có ràng buộc cụ thể về chuyển giao công nghệ và đặt trung tâm nghiên cứu tại Việt Nam.
Song song với việc thu hút công nghệ, việc nâng cao năng lực hấp thụ của doanh nghiệp trong nước đóng vai trò quyết định. Nếu không chuẩn bị tốt nguồn nhân lực chất lượng cao và hạ tầng kỹ thuật tương thích, doanh nghiệp nội địa sẽ không thể tiếp nhận hay làm chủ các công nghệ tiên tiến như chuỗi giá trị bán dẫn.
Đồng thời, hệ thống sở hữu trí tuệ phải được coi là hạ tầng phát triển kinh tế cốt lõi chứ không đơn thuần là thủ tục hành chính. Bảo hộ tốt sở hữu trí tuệ mới giúp doanh nghiệp giữ vững công nghệ lõi và nâng tầm thương hiệu khi vươn ra thị trường toàn cầu.
TS Võ Trí Thành nhấn mạnh: “Thương hiệu quốc gia không thể xây dựng dựa trên những lời ca ngợi hình thức mà phải được bảo chứng bằng chất lượng sản phẩm, năng lực đổi mới sáng tạo liên tục và một nền công nghệ nội địa vững vàng. Thoát khỏi bẫy gia công chính là con đường duy nhất để Việt Nam khẳng định vị thế và nâng cao năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên mới”.




Tây Nguyên có nhiều lợi thế về đất đai, khí hậu cùng hệ sinh thái để phát triển nông nghiệp công nghệ cao và dược liệu. Tuy nhiên, sản xuất còn phân tán, chất lượng giống chưa đồng đều, chế biến sâu hạn chế và liên kết thị trường chưa chặt chẽ đang là những điểm nghẽn cần tháo gỡ...
Trong 9 tháng đầu năm 2026, số doanh nghiệp giải thể tăng tới 118%, trong khi khu vực đầu tư tư nhân chỉ tăng trưởng 14%, mức thấp nhất trong ba khu vực kinh tế. Trước áp lực này, TS. Nguyễn Đức Hiển nhận định để thích ứng với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2027, doanh nghiệp cần tái cấu trúc quản trị, tài chính, mô hình kinh doanh và thị trường, thay vì chỉ dựa vào mở rộng vốn và quy mô…
Từ những cọng rơm quen thuộc trên đồng ruộng quê nhà, Nguyễn Xuân Tài (SN 1989) xã Quý Lộc, Thanh Hóa đã phát triển ý tưởng sản xuất mồi nhóm lửa, đưa sản phẩm tiếp cận khách hàng quốc tế qua nền tảng thương mại điện tử Amazon. Hành trình khởi nghiệp của anh mở ra hướng khai thác giá trị kinh tế từ phụ phẩm nông nghiệp...
Do đặc thù địa hình sa mạc và cơ cấu dân số chủ yếu là người nhập cư, UAE phải nhập khẩu tới 85% – 90% nhu cầu lương thực, thực phẩm. Trong bối cảnh đó, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Việt Nam – UAE (CEPA) được kỳ vọng sẽ mở ra cơ hội xuất khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ tại UAE, mà còn mở rộng sang toàn bộ thị trường Trung Đông và châu Phi...
Triển lãm và Hội nghị Năng lượng Toàn cầu Việt Nam (GEEC 2027) diễn ra từ ngày 24 đến 26/02/2027 tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam (VEC), Hà Nội, và hiện đang mở đăng ký trưng bày. Sự kiện quy tụ mười lĩnh vực trưng bày, hơn 120 phiên hội nghị, cùng các hoạt động kết nối dành cho chủ đầu tư, nhà cung cấp và tổ chức tài chính.
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.