Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP), kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong tháng 9 vẫn duy trì trên 1,1 tỷ USD, với tốc độ tăng cao hơn tháng 8. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu giảm nhẹ so với tháng trước. Kết quả này cho thấy lượng giao dịch vẫn duy trì ở mức cao trong giai đoạn cuối năm, nhưng đà tăng không đồng đều giữa các ngành hàng và thị trường.
Tôm tiếp tục là mặt hàng chủ lực nhưng tốc độ tăng trưởng đang chậm lại. Tháng 9, xuất khẩu ước đạt 467 triệu USD, tăng 3,9%, đưa tổng kim ngạch 9 tháng lên 3,75 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm trước.
Với tỷ trọng khoảng 41% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản, diễn biến của tôm có ảnh hưởng lớn đến kết quả chung của toàn ngành. Mức tăng thấp trong tháng 9 cho thấy dư địa mở rộng đơn hàng đang chịu sức ép từ cạnh tranh nguồn cung và khả năng hấp thụ của các thị trường.
Thông tin được công bố tại Global Shrimp Forum trong tháng 9 cho thấy nhập khẩu tôm của Trung Quốc tăng nhanh hơn tiêu thụ, trong khi nhập khẩu tôm nguyên liệu của EU suy giảm và có sự phân hóa giữa các khu vực. Tại Mỹ, lượng bán tôm đông lạnh trong tháng 8 giảm dù doanh thu tăng. Những diễn biến này cho thấy tăng trưởng xuất khẩu tôm của Việt Nam chưa phản ánh sự phục hồi đồng đều của nhu cầu tôm trên thị trường thế giới.
Trong khi đó, cá tra có diễn biến tích cực hơn. Xuất khẩu tháng 9 đạt khoảng 214 triệu USD, tăng 18,6%; lũy kế 9 tháng năm 2026 đạt 1,74 tỷ USD, tăng 10,7% so với cùng kỳ.
VASEP cho biết nguồn cung một số loại cá thịt trắng khai thác bị thắt chặt đang tạo thêm cơ hội cho cá tra Việt Nam. Tại Nhật Bản, việc Kyokuyo tiếp tục giới thiệu cá tra thông qua các kênh phân phối chuyên nghiệp là tín hiệu đáng chú ý, dù đây vẫn là thị trường có quy mô tương đối nhỏ. Lợi thế về giá và nguồn cung ổn định đang giúp cá tra được quan tâm nhiều hơn tại một số thị trường.
Đối với mặt hàng cá ngừ, xuất khẩu tháng 9 đạt khoảng 82 triệu USD, tăng 13,1%, nâng kim ngạch 9 tháng năm 2026 lên 716 triệu USD, tăng 3,5% so với cùng kỳ.
"Mức tăng trong tháng cao hơn đáng kể so với mức tăng lũy kế, nhưng triển vọng vẫn phụ thuộc vào điều kiện nhập khẩu tại Mỹ và yêu cầu về chứng từ khai thác tại EU. Sức bán cá ngừ đóng hộp tại Mỹ được cải thiện là yếu tố hỗ trợ nhu cầu, song chưa thể ngay lập tức chuyển thành mức tăng tương ứng về đơn hàng từ Việt Nam", VASEP nhận định.
Các nhóm hải sản khác cũng đóng góp đáng kể vào tăng trưởng. Trong 9 tháng năm 2026 so với cùng kỳ, cá các loại đạt 1,741 tỷ USD, tăng 12,2%; mực và bạch tuộc đạt 606 triệu USD, tăng 15,4%; cua, ghẹ và giáp xác khác đạt 354 triệu USD, tăng 31,6%. Đối với nhuyễn thể có vỏ, tính chung 9 tháng năm 2026 đạt 231 triệu USD, tăng 25,2%, nhưng riêng tháng 9 giảm 3,5%, cho thấy đà tăng của nhóm hàng này bắt đầu có dấu hiệu chững lại.
Phân tích về thị trường xuất khẩu thuỷ sản, VASEP cho biết Trung Quốc–Hồng Kông là điểm sáng nổi bật nhất, với kim ngạch tháng 9 đạt khoảng 315 triệu USD, tăng 39,9%; lũy kế 9 tháng năm 2026 đạt 2,3 tỷ USD, tăng 33% so với cùng kỳ, chiếm khoảng một phần tư tổng xuất khẩu thủy sản Việt Nam.
Theo số liệu hiện có, phần tăng thêm từ thị trường Trung Quốc - Hồng Kông đóng góp khoảng 62% mức tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam so với cùng kỳ. Tuy nhiên, sức mua tại thị trường này cần được đặt trong tương quan với nguồn cung nội địa và hàng nhập khẩu cạnh tranh.
Việc Trung Quốc mở lại khai thác tại khu vực Hoàng Hải - Bột Hải từ đầu tháng 9 bổ sung nguồn hải sản trong nước. Trong khi đó, một số cơ sở tôm của Ecuador được khôi phục quyền xuất khẩu cũng làm tăng lựa chọn cho người mua. Do đó, tăng trưởng cao tại Trung Quốc - Hồng Kông có thể đi kèm sức ép cạnh tranh về giá.
Đối với thị trường ASEAN, xuất khẩu thủy sản sang khu vực này cũng ghi nhận mức tăng mạnh. Cụ thể, tháng 9 đạt gần 84 triệu USD, tăng 45,4%; lũy kế 9 tháng năm 2026 đạt 620 triệu USD, tăng 21% so với cùng kỳ. Hàn Quốc cũng tăng 16,4% trong tháng 9, đưa kim ngạch 9 tháng năm 2026 lên 652 triệu USD, tăng 6,1% so với cùng kỳ. Cùng với các thị trường khác tăng 17,3% trong 9 tháng, nhóm thị trường này đang góp phần duy trì tăng trưởng xuất khẩu thủy sản trong bối cảnh các thị trường truyền thống gặp khó khăn.
Ngược lại, Mỹ ghi nhận mức giảm 3,4% trong tháng 9, với kim ngạch 176 triệu USD. Lũy kế 9 tháng năm 2026 đạt 1,43 tỷ USD, chỉ tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do chi phí thuế bổ sung cùng các yêu cầu liên quan đến MMPA (Đạo luật Bảo vệ Động vật có vú biển) và COA (Giấy chứng nhận phân tích) tiếp tục tác động đến giao dịch. Nhu cầu bán lẻ cũng có sự phân hóa, khi thủy sản đóng hộp tăng về lượng bán, trong khi hàng tươi và đông lạnh tăng doanh thu chủ yếu nhờ giá.
Tại EU, xuất khẩu tháng 9 giảm 12,8%, xuống 93 triệu USD; lũy kế 9 tháng đạt 843 triệu USD, giảm 3%. Nhật Bản cũng giảm 13,7% trong tháng 9, khiến mức tăng lũy kế 9 tháng chỉ còn 0,8%, với kim ngạch 1,25 tỷ USD.
Sau giai đoạn tăng tốc trong quý 3/2026, xuất khẩu thủy sản được dự báo giảm nhịp trong quý 4/2026. Theo VASEP, nguyên nhân là do nhiều đơn hàng phục vụ tiêu dùng cuối năm đã được nhập khẩu và giao hàng sớm, khiến nhu cầu mua bổ sung khó duy trì ở mức cao như những tháng vừa qua.
VASEP nhận định với kim ngạch 9 tháng ước đạt 9,103 tỷ USD, xuất khẩu thủy sản cả năm có thể đạt khoảng 12 tỷ USD. Tuy nhiên, triển vọng những tháng cuối năm vẫn chịu sức ép từ cả nguồn cung và đầu ra. Tôm, cá tra và cá rô phi đều đối mặt với những hạn chế về nguyên liệu, trong khi cạnh tranh trên thị trường gia tăng và người mua thận trọng hơn về giá.
Đối với hải sản khai thác, khả năng mở rộng sản lượng xuất khẩu cũng bị hạn chế bởi nguồn nguyên liệu phù hợp và các yêu cầu ngày càng chặt chẽ về nguồn gốc.
Trong bối cảnh đó, dù một số thị trường vẫn duy trì nhu cầu, khả năng đáp ứng đơn hàng của doanh nghiệp có thể trở thành yếu tố giới hạn tăng trưởng.
Trung Quốc - Hồng Kông và ASEAN được kỳ vọng tiếp tục hỗ trợ xuất khẩu thủy sản trong quý 4/2026, song khó bù đắp hoàn toàn sự chững lại tại Mỹ, EU và Nhật Bản. Vì vậy, kết quả quý 4/2026 nhiều khả năng thấp hơn quý 3/2026. Xuất khẩu thủy sản cả năm 2026 vẫn có thể vượt năm trước, nhưng tốc độ tăng trưởng dự kiến thu hẹp đáng kể so với mức hai con số đạt được trong 9 tháng đầu năm.
Mô hình “Bản sáng vùng biên” đã nâng cao đời sống người dân Yên Khương qua những tuyến đèn đường, mái nhà sửa chữa và học sinh được tiếp sức đến trường. Qua đó, Bộ đội Biên phòng không chỉ bảo vệ vững chắc biên cương mà còn đồng hành cùng dân phát triển kinh tế, củng cố tình đoàn kết nơi “phên dậu” Tổ quốc...
Vừa qua, trong khuôn khổ chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới châu Âu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã thúc đẩy hợp tác với EU, Đan Mạch và Bỉ về nông nghiệp bền vững, công nghệ sinh học, kinh tế biển xanh, bảo vệ môi trường và chống khai thác IUU.
Tây Nguyên có nhiều lợi thế về đất đai, khí hậu cùng hệ sinh thái để phát triển nông nghiệp công nghệ cao và dược liệu. Tuy nhiên, sản xuất còn phân tán, chất lượng giống chưa đồng đều, chế biến sâu hạn chế và liên kết thị trường chưa chặt chẽ đang là những điểm nghẽn cần tháo gỡ...
Trong 9 tháng đầu năm 2026, số doanh nghiệp giải thể tăng tới 118%, trong khi khu vực đầu tư tư nhân chỉ tăng trưởng 14%, mức thấp nhất trong ba khu vực kinh tế. Trước áp lực này, TS. Nguyễn Đức Hiển nhận định để thích ứng với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2027, doanh nghiệp cần tái cấu trúc quản trị, tài chính, mô hình kinh doanh và thị trường, thay vì chỉ dựa vào mở rộng vốn và quy mô…
Từ những cọng rơm quen thuộc trên đồng ruộng quê nhà, Nguyễn Xuân Tài (SN 1989) xã Quý Lộc, Thanh Hóa đã phát triển ý tưởng sản xuất mồi nhóm lửa, đưa sản phẩm tiếp cận khách hàng quốc tế qua nền tảng thương mại điện tử Amazon. Hành trình khởi nghiệp của anh mở ra hướng khai thác giá trị kinh tế từ phụ phẩm nông nghiệp...
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.