Theo số liệu báo cáo được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng 3/8/2026, kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 7/2026 đạt 109,75 tỷ USD, tăng 5,3% so với tháng trước và tăng 33,0% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 7 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu duy trì đà tăng 21,7%, nhưng kim ngạch nhập khẩu có tốc độ tăng nhanh hơn với mức tăng 34,8%. Sự chênh lệch về tốc độ tăng trưởng này đã khiến cán cân thương mại chuyển sang trạng thái nhập siêu 20,52 tỷ USD, chủ yếu bắt nguồn từ nhu cầu gia tăng về nguyên liệu, máy móc và hàng hóa phục vụ cho các hoạt động sản xuất và đầu tư.
Xét riêng về lĩnh vực xuất khẩu, kim ngạch trong tháng 7/2026 đạt 53,08 tỷ USD, tăng 4,5% so với tháng trước. Sự đóng góp vào kết quả này đến từ cả hai khu vực kinh tế, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 10,27 tỷ USD, tăng 2,7%, và khu vực FDI (kể cả dầu thô) đạt 42,81 tỷ USD, tăng 5,0%. Nếu so với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu tháng 7/2026 ghi nhận mức tăng trưởng 25,0%, với khu vực kinh tế trong nước tăng 14,0% và khu vực FDI tăng tới 27,9%.
Tính chung 7 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực FDI tiếp tục khẳng định vai trò chủ chốt khi đóng góp 255,89 tỷ USD, chiếm 80,1% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 26,4%. Trong khi đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 63,64 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 19,9% và tăng trưởng ở mức 5,8%.
Trong 7 tháng năm 2026, có 31 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, đóng góp tới 93,0% tổng giá trị xuất khẩu, đặc biệt có 7 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 69,7%.
Về cơ cấu nhóm hàng, nhóm hàng công nghiệp chế biến giữ vị thế áp đảo với giá trị đạt 287,91 tỷ USD, chiếm 90,1% tổng kim ngạch. Các nhóm hàng còn lại chiếm tỷ trọng khiêm tốn hơn bao gồm nông, lâm sản với 22,79 tỷ USD, chiếm 7,1%; hàng thủy sản đạt 6,86 tỷ USD, chiếm 2,2% và nhóm nhiên liệu, khoáng sản đạt 1,97 tỷ USD, chiếm khoảng 0,6%.
Ở chiều ngược lại, hoạt động nhập khẩu cũng ghi nhận sự gia tăng đáng kể. Cụ thể, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 7/2026 đạt 56,67 tỷ USD, tăng 6,1% so với tháng trước. Trong đó, khu vực FDI đạt 42,87 tỷ USD, tăng 9,3%; khu vực kinh tế trong nước đạt 13,8 tỷ USD, giảm 2,8%. So với cùng kỳ năm trước, nhập khẩu tháng 7/2026 tăng 41,4%, trong đó khu vực trong nước tăng 23,7% và khu vực FDI tăng 48,2%.
Tính chung 7 tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu đạt 340,05 tỷ USD, tăng 34,8% so với cùng kỳ. Khu vực kinh tế trong nước đóng góp 92,14 tỷ USD, tăng 24,1%, trong khi khu vực FDI đạt 247,91 tỷ USD, tăng 39,2%.
Trong 7 tháng năm 2026 có 40 mặt hàng nhập khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 93,0% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 2 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 52,0%).
Đáng chú ý, cơ cấu hàng nhập khẩu tập trung chủ yếu vào nhóm hàng tư liệu sản xuất với trị giá 319,95 tỷ USD, chiếm tới 94,1% tổng kim ngạch. Trong nhóm này, máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 56,9%, còn lại là nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 37,2%. Ngược lại, nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng chỉ chiếm tỷ trọng 5,9% với giá trị 20,1 tỷ USD.
Về thị trường, Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 104,7 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 138,6 tỷ USD.
Trong 7 tháng năm 2026, xuất siêu sang Hoa Kỳ đạt 91,4 tỷ USD tăng 22,6% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu sang EU 26,6 tỷ USD, tăng 19,9%; xuất siêu sang Nhật Bản 1,5 tỷ USD, tăng 12,5%; nhập siêu từ Trung Quốc 93,0 tỷ USD, tăng 39,7%; nhập siêu từ Hàn Quốc 32,4 tỷ USD, tăng 86,9%; nhập siêu từ ASEAN 12,2 tỷ USD, tăng 45,8%.
Với kết quả trên, cán cân thương mại hàng hóa tháng 7/2026 ước tính nhập siêu 3,59 tỷ USD. Tính chung 7 tháng năm 2026, cả nước nhập siêu 20,52 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 10,35 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 28,5 tỷ USD, còn khu vực FDI (tính cả dầu thô) vẫn duy trì mức xuất siêu 7,98 tỷ USD. Thực tế này phản ánh giai đoạn các doanh nghiệp đang tập trung nguồn lực nhập khẩu đầu vào để phục vụ mục tiêu tăng trưởng sản xuất và đầu tư trong thời gian tới.
Mô hình “Bản sáng vùng biên” đã nâng cao đời sống người dân Yên Khương qua những tuyến đèn đường, mái nhà sửa chữa và học sinh được tiếp sức đến trường. Qua đó, Bộ đội Biên phòng không chỉ bảo vệ vững chắc biên cương mà còn đồng hành cùng dân phát triển kinh tế, củng cố tình đoàn kết nơi “phên dậu” Tổ quốc...
Vừa qua, trong khuôn khổ chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới châu Âu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã thúc đẩy hợp tác với EU, Đan Mạch và Bỉ về nông nghiệp bền vững, công nghệ sinh học, kinh tế biển xanh, bảo vệ môi trường và chống khai thác IUU.
Tây Nguyên có nhiều lợi thế về đất đai, khí hậu cùng hệ sinh thái để phát triển nông nghiệp công nghệ cao và dược liệu. Tuy nhiên, sản xuất còn phân tán, chất lượng giống chưa đồng đều, chế biến sâu hạn chế và liên kết thị trường chưa chặt chẽ đang là những điểm nghẽn cần tháo gỡ...
Trong 9 tháng đầu năm 2026, số doanh nghiệp giải thể tăng tới 118%, trong khi khu vực đầu tư tư nhân chỉ tăng trưởng 14%, mức thấp nhất trong ba khu vực kinh tế. Trước áp lực này, TS. Nguyễn Đức Hiển nhận định để thích ứng với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2027, doanh nghiệp cần tái cấu trúc quản trị, tài chính, mô hình kinh doanh và thị trường, thay vì chỉ dựa vào mở rộng vốn và quy mô…
Từ những cọng rơm quen thuộc trên đồng ruộng quê nhà, Nguyễn Xuân Tài (SN 1989) xã Quý Lộc, Thanh Hóa đã phát triển ý tưởng sản xuất mồi nhóm lửa, đưa sản phẩm tiếp cận khách hàng quốc tế qua nền tảng thương mại điện tử Amazon. Hành trình khởi nghiệp của anh mở ra hướng khai thác giá trị kinh tế từ phụ phẩm nông nghiệp...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.