Trước áp lực ngày càng tăng từ các tiêu chuẩn toàn cầu, kỳ vọng của các bên liên quan và các cam kết khí hậu quốc gia của Việt Nam, ESG ngày càng được nhìn nhận như một ưu tiên chiến lược thay vì chỉ là một hoạt động tuân thủ.
Báo cáo khảo sát tiến trình thực hành ESG năm 2025 do PwC Việt Nam công bố ngày 23/9 phản ánh sự chuyển dịch rõ nét của các doanh nghiệp Việt Nam từ nhận thức sang hành động trong lĩnh vực Môi trường, Xã hội và Quản trị (ESG).
DOANH NGHIỆP THỰC HÀNH ESG TẠI VIỆT NAM CÓ SỰ PHÂN HOÁ RÕ RỆT
Theo báo cáo, đối với nền kinh tế định hướng xuất khẩu của Việt Nam, các diễn biến về các quy định trên thế giới đang chuyển hóa thành những thách thức kinh doanh phức tạp và tức thời. Việc đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt về môi trường và nhân quyền là điều thiết yếu để duy trì khả năng tiếp cận các thị trường quốc tế.
Để duy trì năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp Việt Nam cần tích hợp phát triển bền vững vào hoạt động vận hành và công tác quản trị. Một chiến lược ESG đáng tin cậy hiện là yếu tố then chốt để mở rộng thị trường, thu hút đầu tư nước ngoài và đáp ứng kỳ vọng của các thương hiệu toàn cầu đang tìm kiếm nhà cung cấp có trách nhiệm. Việc điều hướng bối cảnh ESG đang thay đổi này đòi hỏi sự thích ứng chủ động, tầm nhìn chiến lược và cam kết xây dựng năng lực bền vững dài hạn.
Kết quả khảo sát từ 174 đại diện doanh nghiệp tại Việt Nam cho thấy 89% doanh nghiệp cho biết họ đã thiết lập hoặc đang có kế hoạch thiết lập các cam kết ESG trong vòng 2-4 năm tới, tăng so với mức 80% ghi nhận vào năm 2022.
Mức độ cam kết của các doanh nghiệp là rất khác nhau. Cụ thể, 54% doanh nghiệp đã thực hiện; trong khi 13% đang trong giai đoạn lập kế hoạch nhưng chưa triển khai. Ngoài ra, 22% doanh nghiệp đang ở giai đoạn khởi đầu, và 11% vẫn chưa bắt đầu bất kỳ hành động nào. Đặc biệt, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thể hiện tỷ lệ thực hiện cao, đạt 71%. Doanh nghiệp niêm yết cũng cho thấy sự chủ động đáng kể trong việc hành động. Tuy nhiên, doanh nghiệp tư nhân và gia đình vẫn còn nhiều khoảng trống.
"Điều này cho thấy mức độ trưởng thành ESG tại Việt Nam đang tiến triển, nhưng chưa đồng đều," ông Nguyễn Hoàng Nam, Lãnh đạo Dịch vụ Tư vấn ESG, Phó Tổng Giám Đốc, PwC Việt Nam cho biết. "Một số doanh nghiệp hành động mạnh mẽ, trong khi nhiều đơn vị vẫn đứng ngoài cuộc."
Báo cáo chỉ rõ các động lực chính thúc đẩy doanh nghiệp triển khai ESG gồm: 70% doanh nghiệp thực hiện do yêu cầu pháp lý và quy định; 40% do áp lực từ khách hàng, nhất là ở châu Âu; Các nhà đầu tư, tổ chức tài chính cũng tạo sức ép bằng các điều kiện về vốn và tín dụng xanh; Lãnh đạo và nhân viên trong doanh nghiệp cũng mong muốn hướng tới phát triển bền vững.
Chỉ 16% doanh nghiệp xem việc giảm thiểu chi phí là động lực triển khai ESG. Tương tự, chỉ 25% coi khả năng tiếp cận tài chính là yếu tố thúc đẩy hàng đầu, cho thấy lợi ích từ tài chính xanh vẫn chưa được hiểu rõ hoặc chưa dễ tiếp cận. Khoảng cách này phản ánh rằng phần lớn doanh nghiệp vẫn nhìn nhận ESG như một chi phí tuân thủ, thay vì là đòn bẩy mạnh mẽ để nâng cao hiệu quả vận hành và kiến tạo giá trị.
Về quản trị, doanh nghiệp Việt Nam đã có bước tiến rõ rệt. Kết quả khảo sát cũng cho thấy Quản trị là trụ cột ESG phát triển mạnh nhất, với 41% đã xác lập cơ cấu quản trị ESG chính thức và 68% doanh nghiệp ghi nhận sự tham gia của Hội đồng Quản trị vào các vấn đề ESG.
Xét về mức độ trưởng thành của công tác báo cáo, 57% doanh nghiệp đã thực hiện báo cáo ESG và 43% đang áp dụng các tiêu chuẩn chính thức như GRI hoặc ISSB, tăng đáng kể so với 30% vào năm 2022. Xu hướng đi lên này phản ánh nhận thức ngày càng cao và việc tiếp thu các thông lệ tốt nhất toàn cầu, dù nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc chuyển hóa dữ liệu ESG thành các chỉ số hiệu quả hoạt động và các công bố thông tin có ý nghĩa.
THÁCH THỨC MỚI THAY ĐỔI THEO TỪNG GIAI ĐOẠN TRƯỞNG THÀNH CỦA DOANH NGHIỆP
Báo cáo chỉ ra rằng với các doanh nghiệp đang trong giai đoạn phát triển, rào cản chủ yếu đến từ nội bộ, bao gồm thiếu chiến lược ESG rõ ràng (70%), thiếu chuyên môn ESG (60%) và hệ thống đo lường chưa hoàn thiện (54%).
Trong khi đó, các doanh nghiệp đã trưởng thành lại gặp phải những lực cản từ bên ngoài, như khoảng trống trong chính sách pháp lý (45%) và sự bất ổn kinh tế (38%), gây khó khăn cho việc mở rộng quy mô triển khai ESG.
Doanh nghiệp Việt Nam cần coi ESG là một phần trong chiến lược kinh doanh cốt lõi, thay vì chỉ là nghĩa vụ tuân thủ. Việc chủ động đầu tư, hành động thực chất và minh bạch sẽ không chỉ giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, mà còn mở ra cơ hội tiếp cận nguồn vốn xanh, nâng cao hiệu quả vận hành, và tạo dựng niềm tin với khách hàng, nhà đầu tư cũng như cộng đồng.
Ông Nam cũng cho biết thêm một thách thức lớn mà doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt là nguồn lực. Việc triển khai ESG đòi hỏi chi phí, nhân sự và chuyên môn. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa có đủ năng lực để xây dựng báo cáo ESG đạt chuẩn quốc tế, hoặc đầu tư vào các dự án giảm phát thải, tiết kiệm năng lượng, đổi mới công nghệ. Điều này dẫn tới tình trạng một số doanh nghiệp ngại thay đổi, hoặc chỉ làm ở mức tối thiểu để đáp ứng yêu cầu đối tác.
Ngoài ra, vấn đề minh bạch cũng được chú trọng đề cao. Thực tế mặc dù số lượng báo cáo ESG tăng lên, nhưng chất lượng chưa đồng đều. Chỉ 32% báo cáo được kiểm toán, cho thấy mức độ đảm bảo thông tin chưa cao. Việc công bố thông tin tự nguyện cũng dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất, gây khó cho việc so sánh, đánh giá giữa các doanh nghiệp.
Để tăng tốc trên hành trình ESG, các doanh nghiệp kêu gọi nhận được sự hỗ trợ thực tiễn. Cụ thể, từ phía Chính phủ, doanh nghiệp mong muốn có các tài trợ tài chính gắn với phát triển bền vững (59%), tiêu chuẩn xanh và chứng nhận (56%) và luật định liên quan phát triển bền vững kèm theo các ưu đãi (55%).
Từ thị trường, các doanh nghiệp cần những giải pháp phù hợp với từng giai đoạn trưởng thành như lộ trình và đào tạo kiến thức nền tảng cho doanh nghiệp mới bắt đầu, và các công cụ chuyên sâu như hệ thống theo dõi dữ liệu phát thải và phân tích tính trọng yếu cho các doanh nghiệp đã triển khai ESG. Cách tiếp cận kép này là chìa khóa để thúc đẩy mức độ trưởng thành ESG và tạo ra giá trị dài hạn cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.
"ESG tại Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển mình quan trọng. Từ chỗ chỉ là khái niệm mới mẻ, ESG nay đã trở thành yêu cầu thực tế, gắn liền với khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp," ông Nam nhấn mạnh. "Dù còn nhiều thách thức – từ nguồn lực, nhận thức cho tới áp lực minh bạch – song xu hướng này là không thể đảo ngược."
Trong tương lai gần, ông khuyến nghị rằng doanh nghiệp Việt Nam cần coi ESG là một phần trong chiến lược kinh doanh cốt lõi, thay vì chỉ là nghĩa vụ tuân thủ. Việc chủ động đầu tư, hành động thực chất và minh bạch sẽ không chỉ giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, mà còn mở ra cơ hội tiếp cận nguồn vốn xanh, nâng cao hiệu quả vận hành, và tạo dựng niềm tin với khách hàng, nhà đầu tư cũng như cộng đồng




Nghị định 396/2026/NĐ-CP được ban hành nhằm làm rõ quy trình phân cấp cấp tài khoản hệ thống tín chỉ carbon quốc gia và bổ sung thủ tục cho các dự án carbon rừng, có hiệu lực từ ngày 12/12/2026...
Việc Cơ quan Quản lý Thị trường Năng lượng Singapore chấp thuận có điều kiện cho dự án xuất khẩu điện tái tạo trị giá 10 tỷ USD đã chính thức khởi động mô hình hợp tác năng lượng ba bên chưa từng có tiền lệ giữa Việt Nam, Malaysia và Singapore...
Khoản vay xanh hợp vốn quốc tế trị giá 105 triệu USD do HSBC thu xếp sẽ giúp Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) triển khai hệ thống pin lưu trữ năng lượng tại 70 trạm biến áp hiện hữu, nhằm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu phụ tải và hạn chế nguy cơ quá tải lưới điện...
Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026, các chuyên gia cho rằng sự kết hợp công nghệ với quản trị dữ liệu có thể giúp nông nghiệp Việt Nam nâng cao năng suất, tiết giảm chi phí và cải thiện vị thế trong chuỗi giá trị…
Trong khi thế giới đang “khát” pin lưu trữ, Trung Quốc lại bất ngờ tạm dừng xét duyệt hàng loạt nhà máy mới vì lo ngại nguy cơ dư thừa công suất. Liệu ngành pin có lặp lại vết xe của điện mặt trời khi đầu tư ồ ạt, giá lao dốc và lợi nhuận bị bào mòn?
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Thảo luận Luật Nhà ở (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội cho rằng, đối với các dự án nhà ở cho thuê do Nhà nước đầu tư để dẫn dắt thị trường thì cần yêu cầu công khai đầy đủ cấu phần giá thành gồm chi phí đất, xây dựng, tài chính, quản lý, vận hành, bảo trì và các khoản chi phí hợp pháp khác. Việc công khai này giúp hình thành mặt bằng tham chiếu đáng tin cậy cho thị trường...