Con số thống kê trên được thực hiện bởi Chứng khoán Rồng Việt trên 27 ngân hàng niêm yết. Trong đó, thu nhập lãi thuần tăng 13% tiếp tục là động lực tăng trưởng chính cho Tổng thu nhập hoạt động tăng 16%, trong khi các nguồn thu nhập khác cũng ghi nhận tăng trưởng tích cực trở lại.
Lũy kế 9 tháng năm 2025, lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng này đạt gần 260 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng 19% so với cùng kỳ. Với các diễn biến trên, ngành ngân hàng tiếp tục bám sát kế hoạch lợi nhuận cả năm với tỷ lệ hoàn thành kế hoạch đạt 74%.
Về tín dụng, tăng trưởng tín dụng, kể từ đầu năm của các ngân hàng niêm yết tính tới hết quý 3/2025 đạt 14,5 %, ghi nhận mức tăng tích cực nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Mức độ tăng có phần chậm lại do yếu tố mùa vụ nhưng vẫn tích cực so với cùng kỳ các năm trước nhờ quan điểm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế của Chính phủ. Tính đến ngày 15/10, tăng trưởng tín dụng đạt 13,8%.
Sự phân hóa về tốc độ tăng trưởng tín dụng giữa ngân hàng không còn quá sâu sắc như quý trước khi nhiều ngân hàng đã gần chạm hạn mức tín dụng được cấp hồi đầu năm và dần ưu tiên tối ưu hóa biên sinh lời của danh mục tín dụng so với tăng trưởng quy mô.
Theo đó, VPB (ngân hàng mẹ ) là Ngân hàng TMCP duy nhất có mức độ tăng trưởng đột biến +29,1% so với mặt bằng chung, trong khi chỉ có CTG tiếp tục ghi nhận đà tăng trưởng tốt về tín dụng +15,6% trong nhóm ngân hàng quốc doanh. Qua đó, thị phần mở rộng tín dụng trong đã cân bằng hơn giữa nhóm ngân hàng quốc doanh và Ngân hàng TMCP lớn trong quý 3/2025.
Về huy động, tăng trưởng huy động của các ngân hàng niêm yết tính tới hết quý 3/2025 đạt 11,4%. Như vậy, khoảng cách giữa tăng trưởng huy động - tăng trưởng tín dụng đã nới rộng lên mức -3,1 điểm phần trăm sau khi đã bắt kịp trong quý trước khoảng cách chỉ là 10 điểm phần trăm.
Trong đó, tăng trưởng tiền gửi khách hàng đạt 10,2% từ đầu năm, ghi nhận tăng trưởng giảm tốc, còn tăng trưởng giấy tờ có giá giảm xuống 21,7% do quy mô phát hành mới thấp hơn lượng giấy tờ có giá đáo hạn.
Tỷ lệ CASA toàn thị trường giảm nhẹ 30 điểm phần trăm xuống 21,9%, một phần do lo ngại của các hộ kinh doanh về việc bị kiểm soát thuế sau khi quy định áp dụng bắt buộc hóa đơn điện tử kết nối dữ liệu với cơ quan thuế theo Nghị định 70/2025-NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ 1/6/2025.
NIM toàn ngành giảm 10 điểm phần trăm so với quý trước xuống 3,0%, mức đáy quý 1/2025 và thấp hơn so với cùng kỳ 30 bps. Diễn biến này bị ảnh hưởng bởi: Lợi suất tài sản sinh lãi giảm 5 điểm phần trăm so với quý trước xuống 6,5% mặc dù lợi suất cho vay – cấu phần tác động lớn nhất đến lợi suất tài sản đi ngang.
Diễn biến này bị ảnh hưởng bởi nợ quá hạn hình thành ròng tăng trở lại (chủ yếu từ nợ nhóm 2) trong quý 3/2025, trái ngược với quý 2/2025 khi thu nhập lãi hưởng lợi từ thu lãi ngoại bảng khi tổng nợ quá hạn hình thành ròng giảm mạnh.
Chi phí vốn tăng 5 bps lên 3,9% chủ yếu do xu hướng tăng lãi suất huy động nói trên. Trong ngắn hạn, VDSC cho rằng dư địa cải thiện NIM sẽ hạn chế hơn, chủ yếu do áp lực từ chi phí vốn tăng nhanh hơn so với lãi suất đầu ra. Theo đó, chi phí huy động tiếp tục đối mặt với nhiều áp lực tăng khi xét đến nhu cầu giải ngân tín dụng về cuối năm thường rất cao và khoảng cách hiện tại giữa huy động và tín dụng.
Áp lực thanh khoản của hệ thống có thể được giải tỏa bớt khi dòng vốn chi ngân sách, đặc biệt là giải ngân cho các dự án đầu tư công, sẽ thường dồi dào hơn trong giai đoạn cuối năm.
Về lợi suất tài sản, mặc dù các khoản vay trung dài hạn đã được ưu tiên giải ngân trong 2 quý gần nhất, lợi suất cho vay chưa thể tăng lên ngay trong ngắn hạn do những khoản cho vay trung dài hạn của khách hàng cá nhân thường được ưu đãi lãi suất trong khoảng thời gian từ 6 tháng – 3 năm.
Nợ xấu nội bảng toàn ngành tăng (gộp) khoảng 7 nghìn tỷ đồng so với quý trước lên 274 nghìn tỷ đồng, và tỷ lệ nợ xấu là 2,01%.
Tuy nhiên, điều này không đáng lo ngại do nợ xấu hình thành ròng tiếp tục giảm so với quý trước xuống 28 nghìn tỷ đồng và các ngân hàng chủ động thu hẹp hoạt động xử lý rủi ro trong quý xuống còn khoảng 21 nghìn tỷ đồng thấp hơn lượng nợ xấu hình thành ròng.
Bên cạnh đó, các ngân hàng tiếp tục tăng cường trích lập dự phòng cụ thể 34 nghìn tỷ đồng, giúp tỷ lệ bao phủ nợ xấu LLR toàn ngành cải thiện nhẹ lên 96% trong khi quý 2 là 91%.
Sự chủ động của bên mua chiều qua đã hoàn toàn biến mất. Cả phiên hôm nay dòng tiền rút xuống các mức giá rất thấp và thụ động chờ giá. Tuy sức ép từ bên bán không quá lớn nhưng cách mua này vẫn mở đường cho giá điều chỉnh sâu.
Thị trường chiều nay không có bất kỳ nhịp phục hồi nào khi dòng tiền suy yếu đột biến. Thanh khoản khớp lệnh sàn HoSE sụt giảm gần 23% so với phiên sáng trong khi số lượng cổ phiếu giảm sâu quá 1% lên tới 130 mã. May mắn là nhóm blue-chips còn hỗ trợ điểm số không giảm quá mạnh.
Thị trường tài chính Indonesia tiếp tục chịu sức ép lớn khi nhà đầu tư đồng loạt bán ra cổ phiếu, trái phiếu chính phủ và đồng rupiah, trong bối cảnh lo ngại công ty cung cấp chỉ số MSCI có thể hạ hạng thị trường chứng khoán nước này...
Thị trường bất ngờ xuất hiện áp lực bán hạ giá tăng đáng kể so với các phiên trước. Cung cầu mất cân bằng rõ rệt, đẩy cổ phiếu giảm giá hàng loạt với 119 mã giảm quá 1% bất chấp VN-Index chỉ giảm nhẹ 0,69%. Khối ngoại cũng có phiên xả hàng lớn nhất 4 tuần và giá trị bán ròng cao nhất 19 phiên sáng trở lại đây.
Trong bối cảnh môi giới và tự doanh gặp khó, cho vay ký quỹ tiếp tục là động lực quan trọng của các công ty chứng khoán. Doanh thu mảng cho vay trong 9 tháng đạt 36.200 tỷ đồng, tăng 54,1% so với cùng kỳ; lợi nhuận gộp tăng 45%, lên 23.400 tỷ đồng. Đây là mảng đóng góp lớn nhất, chiếm khoảng 45% tổng lợi nhuận gộp toàn ngành.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.