Các khoáng sản đã hình thành tương đối rõ các công đoạn chế biến sâu ở quy mô thương mại, gồm bô-xít - alumin - nhôm, wolfram, đồng và apatit.
Ngày 8/10, Bộ Công thương đã hoàn tất dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục và mức độ chế biến của một số khoáng sản khai thác trong nước được phép xuất khẩu. Hồ sơ được chuyển sang Bộ Tư pháp để thẩm định.
Theo Bộ Công thương, ngày 17/9/2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Danh mục khoáng sản chiến lược, quan trọng của Việt Nam giai đoạn 2025 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045, gồm 19 loại khoáng sản (đất hiếm; urani, thori; vàng; thiếc; wolfram; antimon; đồng; bô-xít; titan; liti; sắt; mangan; molybden; niken; coban; cromit; than antraxit; apatit và graphit).
Danh mục trên xác định phạm vi khoáng sản cần rà soát nhưng không đồng nghĩa với việc 19 khoáng sản đều đương nhiên thuộc danh mục được phép xuất khẩu. Do đó, việc lựa chọn phải được xem xét riêng theo từng khoáng sản, từng chuỗi công nghệ và mức độ chế biến phù hợp.
Bộ Công thương đã xây dựng báo cáo đánh giá thực trạng việc khai thác, chế biến, sử dụng và xuất khẩu một số khoáng sản chiến lược, quan trọng.
Các khoáng sản đã hình thành tương đối rõ các công đoạn chế biến sâu ở quy mô thương mại, gồm bô-xít - alumin - nhôm, wolfram, đồng và apatit.
Báo cáo này cho thấy pháp luật hiện hành chưa thiết lập ranh giới chung theo dạng sản phẩm hoặc công đoạn chế biến để xác định từ thời điểm nào kim loại, oxit, muối, hợp chất, hợp kim hoặc hàng hóa công nghiệp tạo ra từ khoáng sản đương nhiên không còn thuộc phạm vi có liên quan đến pháp luật về địa chất và khoáng sản.
Do đó, nếu chỉ liệt kê một số sản phẩm đang được xuất khẩu mà không xác định nguyên tắc đối với các công đoạn chế biến tiếp theo thì có thể phát sinh khoảng trống hoặc cách hiểu không thống nhất trong tổ chức thực hiện.
Theo đó, dự thảo chỉ quy định danh mục đối với các khoáng sản được xác định có mức độ chế biến đáp ứng yêu cầu để được phép xuất khẩu, không quy định riêng danh mục các khoáng sản chưa có sản phẩm được phép xuất khẩu.
Đối với khoáng sản có nhiều hướng công nghệ chế biến, danh mục quy định các mức độ chế biến tương ứng với từng hướng công nghệ; mức độ chế biến của mỗi hướng công nghệ được áp dụng độc lập.
Bộ Công thương cho biết cách tiếp cận này phản ánh đúng đặc điểm công nghệ và tránh cách hiểu sản phẩm phải tuần tự đi qua tất cả các mức độ chế biến được nêu trong danh mục.
Theo dự thảo phụ lục đính kèm thì có 17 loại khoáng sản với quy định chặt chẽ về mức độ chế biến được phép xuất khẩu.
Chẳng hạn, đối với đất hiếm yêu cầu chế biến sâu đến một trong các sản phẩm sau: oxide riêng rẽ của các nguyên tố đất hiếm; kim loại đất hiếm; hợp kim đất hiếm; bột hợp kim đất hiếm; nam châm vĩnh cửu đất hiếm.
Theo Bộ Công thương, đất hiếm là trường hợp áp dụng cơ chế đặc thù. Dự thảo đồng thời xác định các sản phẩm đất hiếm chế biến sâu được phép xuất khẩu. Khoản 4 Điều 2 dự thảo quy định sản phẩm đất hiếm chỉ được xuất khẩu khi thuộc danh mục này và đáp ứng tiêu chuẩn chế biến sâu theo quy định của Bộ Công Thương.
Do đó, đối với đất hiếm không áp dụng nguyên tắc chung là mọi sản phẩm được chế biến tiếp sau mốc đều mặc nhiên đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Đối với vàng, qua rà soát, Bộ Công thương không đưa quặng vàng, tinh quặng vàng và các sản phẩm trung gian từ chế biến quặng vàng vào danh mục. Khi hàng hóa thuộc phạm vi “vàng nguyên liệu”, việc xuất khẩu thực hiện theo pháp luật về quản lý hoạt động kinh doanh vàng và các quy định pháp luật có liên quan.
Vụ Kế hoạch - Tài chính – Bộ Công thương đề nghị nghiên cứu quy định lộ trình áp dụng đối với một số nhóm khoáng sản hoặc hợp đồng đã ký kết, giúp doanh nghiệp kịp thời cân đối nguồn vốn và nâng cấp dây chuyền, tránh cú sốc tài chính.
Theo Bộ Công thương, dự thảo quy định chuyển tiếp theo thời điểm đăng ký tờ khai hải quan để có mốc pháp lý khách quan, thống nhất; không thiết lập lộ trình hoặc bảo lưu chung đối với hợp đồng đã ký vì có thể làm kéo dài đồng thời hai cơ chế quản lý.
Thời điểm có hiệu lực của Quyết định được xác định theo pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật và là căn cứ để doanh nghiệp chủ động kế hoạch sản xuất, kinh doanh.
Theo Bộ Công thương, dự thảo không quy định thủ tục hành chính mới; không quy định giấy phép hoặc chấp thuận xuất khẩu mới; không bổ sung thành phần hồ sơ hải quan, chứng thư nguồn gốc, giấy xác nhận nhu cầu…
“Các quy định của dự thảo xác định chính sách quản lý mặt hàng, mức độ chế biến, nguyên tắc áp dụng và trách nhiệm của cơ quan nhà nước; không hình thành cơ chế tổ chức, cá nhân phải nộp hồ sơ để nhận quyết định cá biệt cho phép xuất khẩu theo Quyết định này”, báo cáo nêu rõ.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương cùng các bộ, ngành, địa phương tập trung triển khai ngay các giải pháp đồng bộ nhằm bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng giai đoạn 2027 – 2030. Tinh thần chỉ đạo xuyên suốt là hành động quyết liệt, chủ động, kiên quyết không để thiếu điện trong mọi hoàn cảnh và gắn chặt trách nhiệm với người đứng đầu…
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh việc sửa đổi Luật Điện lực phải bảo đảm cung cấp đủ nguồn điện cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Đồng thời yêu cầu phải tìm điểm cân bằng giữa lợi ích quốc gia, người dân và nhà đầu tư; quyết liệt cải cách thủ tục nhằm đẩy nhanh tiến độ các dự án điện...
Dự án Luật sửa đổi Luật Điện lực được trình Quốc hội nhằm đẩy mạnh phân cấp, cắt giảm thủ tục và gỡ nghẽn đầu tư. Trọng tâm dự thảo hướng đến minh bạch cơ chế giá, xóa bỏ bù chéo, thúc đẩy thị trường điện cạnh tranh gắn liền với an sinh xã hội và an ninh năng lượng…
Chính phủ đề xuất bãi bỏ, đơn giản hóa 20 thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; phân cấp, phân quyền 10 nội dung; tháo gỡ 31 nội dung vướng mắc, đặc biệt gắn với yêu cầu của môi trường kinh tế số và nền tảng số.
TP. Hồ Chí Minh mở rộng đối tượng và điều kiện tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp không chỉ giúp tối ưu hóa nguồn lực, mà còn thúc đẩy sự phát triển của các khu công nghiệp và công nghệ cao, góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững của Thành phố…
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.