Tính đến hết năm 2025, tổng doanh thu toàn ngành công nghiệp công nghệ số đạt 215 tỷ USD, tăng 36% so với năm 2024; riêng doanh thu xuất khẩu phần cứng, điện tử ước đạt 172 tỷ USD, tăng 29% so với năm 2024; số lượng doanh nghiệp công nghệ số hoạt động cũng tăng lên khoảng 80.000 doanh nghiệp, cao hơn 10% so với năm trước.
Những con số trên cho thấy đà tăng trưởng mạnh mẽ của ngành công nghiệp công nghệ số, nhưng chưa thể phản ánh đầy đủ “sức khỏe” của thị trường. Chẳng hạn, dù xuất khẩu phần cứng và điện tử tiếp tục là nhóm hàng đóng góp lớn nhất vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, nhưng phần giá trị do doanh nghiệp trong nước tạo ra vẫn còn rất khiêm tốn.
Theo số liệu của FiinGroup, trong 4 tháng đầu năm 2026, khu vực FDI đã tạo ra 63,7 tỷ USD doanh thu xuất khẩu trên tổng kim ngạch 65,1 tỷ USD của toàn ngành. Điều này đồng nghĩa doanh nghiệp điện tử nội địa chỉ đóng góp khoảng 1,4 tỷ USD, tương đương hơn 2% tổng giá trị xuất khẩu.
Trong hơn 80.000 doanh nghiệp công nghệ số hiện nay, mới chỉ có hơn 2.000 doanh nghiệp mở rộng hoạt động ra thị trường nước ngoài, nghĩa là chỉ khoảng 2,5% doanh nghiệp công nghệ nước ta hiện diện ngoài quốc tế.
Con số này thấp hơn đáng kể so với Trung Quốc, nơi 70% doanh nghiệp công nghệ, sản xuất và tiêu dùng duy trì hoạt động hoặc thành lập công ty con ở nước ngoài trong giai đoạn 2025-2026, và hơn 90% có kế hoạch mở rộng quốc tế trong 1-3 năm tới. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phát triển các doanh nghiệp đủ năng lực cạnh tranh toàn cầu để Việt Nam có thể thực sự trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực.
Nhằm hiện thực hóa tham vọng đó, Chính phủ đã liên tiếp ban hành ba đề án lớn trong tháng 5 và 6 năm 2026, đặt ra nhiều chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể đến năm 2030. Quyết định số 840/QĐ-TTg ngày 13/5/2026 về Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến 2045, đặt mục tiêu đạt tối thiểu 300 tỷ USD doanh thu toàn ngành và 100.000 doanh nghiệp công nghệ số, với ít nhất 5 doanh nghiệp ngang tầm các nước tiên tiến.
Tiếp đó, Quyết định số 982/QĐ-TTg ngày 4/6/2026 phê duyệt Đề án hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu đến năm 2030, đặt ra mục tiêu có ít nhất 5.000 doanh nghiệp có doanh thu từ thị trường quốc tế, trong đó 60 doanh nghiệp đạt trên 20 triệu USD/năm và 5 doanh nghiệp đạt tối thiểu 1 tỷ USD/năm.
Cuối cùng, Quyết định số 1091/QĐ-TTg ngày 17/6/2026 về phát triển doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn hướng tới hình thành tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược vào năm 2030. Đồng thời, các mục tiêu về hạ tầng cũng được đề ra như bổ sung ít nhất 6 tuyến cáp quang biển, phủ sóng 5G cho 99% dân số, phát triển tối thiểu 5 trung tâm dữ liệu quy mô lớn, làm chủ 70% công nghệ chiến lược quốc gia và đưa Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về AI.
Để doanh thu ngành công nghiệp công nghệ số đạt tối thiểu 300 tỷ USD vào năm 2030, quy mô toàn ngành sẽ phải tăng khoảng 51% so với hiện nay. Điều này đồng nghĩa doanh thu cần duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10,96% mỗi năm trong giai đoạn từ nay đến năm 2030.
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, GS.TS. Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng hệ sinh thái công nghiệp công nghệ số Việt Nam đang hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để bứt phá.
Doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia sản xuất linh kiện công nghệ cao cho các lĩnh vực như hàng không, trong khi các tập đoàn lớn ngày càng khẳng định năng lực phần mềm và mở rộng ra quốc tế. Sự xuất hiện của nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phát triển sản phẩm "Made in Viet Nam" trong AI, dữ liệu lớn, blockchain và chuyển đổi số cho y tế, giáo dục, nông nghiệp, tài chính cũng góp phần vào đà tăng trưởng.
Vì vậy, mục tiêu tăng số lượng doanh nghiệp từ 80.000 lên 100.000 vào năm 2030 được xem là hoàn toàn khả thi.
Tuy vậy, số lượng các doanh nghiệp quy mô lớn sẽ luôn chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số các doanh nghiệp của mỗi quốc gia, ngay cả tại các nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Đài Loan. Vì vậy, động lực tăng trưởng của ngành trong dài hạn vẫn phải tính đến yếu tố đóng góp quan trọng từ khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME).
Về nguồn nhân lực, Việt Nam sau nhiều năm thúc đẩy giáo dục STEM (khoa học - công nghệ - kỹ thuật - toán học) và khuyến khích xã hội đầu tư vào khoa học, công nghệ, kết quả tích cực đã bắt đầu xuất hiện. Theo số liệu từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm nay hơn một nửa số thí sinh đăng ký xét tuyển có ít nhất một nguyện vọng thuộc khối ngành STEM.
Bên cạnh các ưu đãi về vốn, thuế, hạ tầng nghiên cứu dùng chung, Chính phủ cần xây dựng cơ chế chia sẻ hạ tầng tri thức và tài sản trí tuệ (IP) để hình thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực sự hiệu quả. Bên cạnh đó, nếu cơ chế giúp doanh nghiệp kết nối với nhu cầu thị trường được khơi thông, khi đó mục tiêu phát triển thêm 20.000 doanh nghiệp công nghệ đến năm 2030, thậm chí nhiều hơn, hoàn toàn có thể đạt được.
Dù số lượng nhập học thực tế sẽ thấp hơn số lượng đăng ký xét tuyển, song xu hướng này cho thấy nguồn tuyển sinh các ngành STEM đang được cải thiện đáng kể. Theo GS.TS.Chử Đức Trình, nếu trong thời gian tới tỷ lệ người học các ngành STEM tiếp tục duy trì và tăng lên khoảng 30-40%, chưa kể các ngành có chuyên môn gần với STEM, thì mục tiêu có khoảng 3 triệu nhân lực công nghệ vào năm 2030 là hoàn toàn khả thi, dù đây vẫn là một nhiệm vụ rất khó.
Đáng chú ý, GS.TS. Chử Đức Trình cũng chỉ ra: “Không phải tất cả đều phải học lên thạc sĩ hay tiến sĩ. Việt Nam cũng cần một lực lượng lao động được đào tạo nghề bài bản để có thể tham gia thị trường ngay sau khi tốt nghiệp, qua đó hình thành cơ cấu nhân lực hài hòa và đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp”...
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 31-2026 phát hành ngày 03/08/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-312026.html




Các đại biểu cho rằng cần cụ thể hóa tiêu chí xác định cấp độ rủi ro trên cơ sở tính chất, mức độ quan trọng của dữ liệu, để bảo đảm tính khoa học, thống nhất và khả thi trong thực tiễn. Mục tiêu không chỉ là giảm số lượng thủ tục hành chính, mà phải giảm thực chất nghĩa vụ tuân thủ trùng lặp, kết hợp giữa tiền kiểm, hậu kiểm và trách nhiệm giải trình...
Đóng góp ý kiến vào dự án Luật Định danh và xác thực điện tử, Đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung quy định bảo đảm quyền tự chủ, kiểm soát danh tính điện tử của người dân, đồng thời giới hạn việc thu thập dữ liệu cá nhân và sinh trắc học ở mức tối thiểu cần thiết cho từng giao dịch có mục đích hợp pháp…
Dự thảo Luật An ninh dữ liệu quy định 5 cấp độ rủi ro an ninh dữ liệu; chủ quản dữ liệu tự xác định cấp độ, áp dụng biện pháp bảo vệ tương xứng và chịu trách nhiệm về kết quả xác định, theo cơ chế hậu kiểm là chủ yếu…
Trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Việt Nam và Ấn Độ thảo luận sáu nhóm lĩnh vực hợp tác, từ phát triển nhân lực, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn đến công nghệ khí hậu, y tế và kết nối đầu tư…
Dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử quy định nguyên tắc công nhận lẫn nhau đối với danh tính điện tử, kết quả xác thực của nước ngoài để sử dụng trong giao dịch xuyên biên giới; sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan của Luật Giao dịch điện tử, Luật Căn cước, Luật Chuyển đổi số, Luật Thương mại điện tử và Luật Đầu tư để bảo đảm thống nhất trong hệ thống pháp luật...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Với thông điệp “Cà phê Hòa bình - Make coffee not war”, chuỗi hoạt động “Theo dấu chân 100 năm Cà phê Khe Sanh” kết nối những giá trị lịch sử, văn hóa và nông nghiệp. Đây cũng là dịp để Quảng Trị phát huy tiềm năng du lịch nông nghiệp, đưa câu chuyện cà phê trở thành điểm nhấn trong hành trình khám phá miền Tây của tỉnh.