Nghị định quy định doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ khi đáp ứng đầy đủ điều kiện chung và điều kiện riêng theo quy mô doanh nghiệp. Quy mô doanh nghiệp được xác định theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Về điều kiện chung, doanh nghiệp phải được thành lập và đang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải tạo ra sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từ một trong các kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo được sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp.
Về điều kiện riêng, Nghị định phân chia quy định cho doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ.
Các doanh nghiệp lớn phải đáp ứng các điều kiện riêng sau.
Thứ nhất, có tổng chi cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt tối thiểu 2% doanh thu thuần bình quân trong 3 năm tài chính liền kề hoặc từ 200 tỷ đồng Việt Nam/năm trở lên trong 3 năm tài chính liền kề; trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới 3 năm thì tính bình quân trên toàn bộ thời gian hoạt động kể từ khi thành lập, nhưng không ít hơn 1 năm tài chính đầy đủ.
Thứ hai, có bộ phận nghiên cứu và phát triển với tối thiểu 10 nhân lực có trình độ từ đại học trở lên, trong đó có ít nhất 05 nhân lực là người Việt Nam.
Thứ ba, sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chiếm tối thiểu 30% tổng doanh thu hoặc đạt từ 90 tỷ đồng Việt Nam/năm trở lên trong 3 năm tài chính liền kề. Trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới 3 năm thì tính bình quân trên toàn bộ thời gian hoạt động kể từ khi thành lập, nhưng không ít hơn 1 năm tài chính đầy đủ.
Thứ tư, sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài; được tạo ra từ công nghệ thuộc Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao theo quy định pháp luật; đạt giải thưởng quốc gia, quốc tế về chất lượng hoặc môi trường.
Trong khi đó các doanh nghiệp vừa phải đáp ứng các điều kiện riêng sau.
Thứ nhất, phải có tổng chi cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt tối thiểu 2% doanh thu thuần bình quân trong 03 năm tài chính liền kề; trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới 03 năm thì tính bình quân trên toàn bộ thời gian hoạt động kể từ khi thành lập, nhưng không ít hơn 01 năm tài chính đầy đủ.
Thứ hai, có bộ phận nghiên cứu phát triển với tối thiểu 05 nhân lực có trình độ từ đại học trở lên, trong đó có nhân lực là người Việt Nam.
Thứ ba, sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chiếm tối thiểu 20% tổng doanh thu trong 03 năm tài chính liền kề; trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới 03 năm thì tính bình quân trên toàn bộ thời gian hoạt động kể từ khi thành lập, nhưng không ít hơn 01 năm tài chính đầy đủ.
Điều kiện riêng đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ được quy định như sau.
Thứ nhất, phải có tổng chi cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt tối thiểu 2% doanh thu thuần bình quân trong 03 năm tài chính liền kề; trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới 03 năm thì tính bình quân trên toàn bộ thời gian hoạt động kể từ khi thành lập, nhưng không ít hơn 1 năm tài chính đầy đủ.
Thứ hai, có tối thiểu 2 nhân lực hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó có nhân lực là người Việt Nam, hoặc thuê từ 02 chuyên gia trở lên từ cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo, tổ chức khoa học và công nghệ.
Thứ ba, có ít nhất 1 sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang được thương mại hóa.
Theo quy định, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính là cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ, thẩm định và cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ, cấp thay đổi nội dung, cấp lại, thu hồi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thông báo việc cấp, cấp thay đổi, cấp lại, thu hồi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ tới các cơ quan có liên quan đến việc thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ có hiệu lực trên toàn quốc dưới dạng văn bản giấy hoặc văn bản điện tử; là căn cứ thực hiện ưu đãi đầu tư và các chính sách ưu đãi, hỗ trợ khác của Nhà nước đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ; là căn cứ để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo quy định của pháp luật.
Các quy định trên có hiệu lực từ ngày 14/10/2025.
Lầu Năm Góc trước đây từng loại doanh nghiệp chip nhớ của Trung Quốc CXMT khỏi danh sách 1260H, nhưng trong bản cập nhật mới nhất đã xuất hiện doanh nghiệp này...
Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) thực hiện quản lý hoạt động tài trợ, đặt hàng, hỗ trợ dựa trên kết quả đầu ra, chấp nhận rủi ro khoa học, rủi ro công nghệ trong phạm vi có kiểm soát...
AI không thay thế con người mà trở thành công cụ trao quyền cho con người. Trong kỷ nguyên trí tuệ số, sứ mệnh cốt lõi của ngành xuất bản vẫn là tạo ra tri thức đáng tin cậy, đồng thời đổi mới giáo dục để thích ứng với những thay đổi do AI mang lại…
Ngày 26/6/2026 - Công ty TNHH KUKA Việt Nam phối hợp với Trung tâm Đào tạo thuộc Ban Quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM (SHTP Training) chính thức khánh thành Trung tâm Công nghệ Tự động hóa 2.0 - KUKA Automation 2.0 Technology Center, đánh dấu bước tiến mới trong việc thúc đẩy ứng dụng tự động hóa thông minh và phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao tại Việt Nam.
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đánh giá Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm đã không ngừng phát triển, khẳng định vị thế là một trong những cơ quan báo chí kinh tế hàng đầu, uy tín của đất nước...
35 năm trước, Thời báo Kinh tế Việt Nam ra đời cùng với sự đổi mới, đặc biệt là đổi mới kinh tế của đất nước, đã đồng hành và có những đóng góp, dù còn rất nhỏ bé, cho công cuộc xây dựng kinh tế đất nước. Tròn 6 năm kể từ năm 2020, Tạp chí Kinh tế Việt Nam lại tiếp tục song hành cùng sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Và với sự ra mắt đồng thời hai nền tảng công nghệ Asko CMS và Askonomy vào ngày 26/6/2026, Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy - Vietnam Economic Times nguyện sẽ đồng hành cùng Kỷ nguyên vươn mình của đất nước.
Hạ tầng năng lượng thông minh đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa vận hành hệ thống năng lượng, tăng cường khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xanh của Việt Nam. Nhận diện các cơ hội và thách thức, đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng năng lượng thông minh đang là yêu cầu cấp thiết.