
Cục Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết từ ngày 24/2 đến ngày 04/3/2025 (27 tháng giêng đến mùng 5 tháng 2 âm lịch), xâm nhập mặn bắt đầu tăng dần với chiều sâu dự báo ranh mặn 4 g/l lớn nhất ở các cửa sông Cửu Long.
Cơ quan này cũng dự báo rằng từ nay đến cuối mùa khô, các tỉnh miền Tây Nam Bộ còn các đợt xâm nhập mặn vào các kỳ triều cường, gồm: đợt từ ngày 24/2 - 4/3/2025; đợt từ 11/3 - 15/3/2025; đợt từ ngày 30/3 - 02/4. Chiều sâu dự báo ranh mặn 4 g/l lớn nhất ở các cửa sông Cửu Long trong kỳ triều vào khoảng 45 – 62 km; vùng hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, chiều sâu xâm nhập mặn vào sâu từ 65 - 70 km.
Trường hợp nguồn nước thượng lưu về hạn chế, chiều sâu xâm nhập mặn ở các cửa sông Cửu Long ở mức tương đương như trong tháng 02/2025. Đối với vùng hai sông Vàm Cỏ xâm nhập mặn có thể kéo dài sang tháng 4/2025 nếu khu vực chưa xuất hiện mưa.
Còn theo Trung tâm Khí tượng thủy văn Quốc gia, mùa khô 2024 - 2025 này, tình hình xâm nhập mặn sẽ ở mức cao hơn trung bình nhiều năm, nhưng không gay gắt như mùa khô các kỳ 2023 - 2024, kỳ 2015 - 2016 và kỳ 2019 – 2020.
Hiện nay, mực nước tại các dòng chính sông Mekong biến đổi chậm và phổ biến ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm; mực nước trên sông Tiền và sông Hậu dao động theo thủy triều; mực nước cao nhất tuần tại Tân Châu là 1,35 m, tại Châu Đốc là 1,55 m, ở mức cao hơn trung bình nhiều năm cùng kỳ từ 0,1 - 0,15 m.
Cơ quan khí tượng cũng dự báo rằng xu thế xâm nhập mặn từ ngày 21 - 28/02 ở đồng bằng sông Cửu Long giảm trong 2 - 3 ngày đầu tuần, sau đó tăng lại đến ngày cuối tuần. Độ mặn cao nhất tại các trạm ở mức xấp xỉ và thấp hơn độ mặn cao nhất tháng 02/2024.
Cụ thể, chiều sâu ranh mặn 4‰ (4 g/l) tại các cửa sông chính: sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây phạm vi xâm nhập mặn 40 - 52 km; sông Cửa Tiểu, Cửa Đại 35 - 42 km; sông Hàm Luông 40 - 50 km; sông Cổ Chiên 35 - 42 km; sông Hậu 35 - 42 km; sông Cái Lớn 30 - 37 km.
Tình hình xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long phụ thuộc vào nguồn nước từ thượng nguồn sông Mekong, triều cường và còn biến động trong thời gian tới. Độ mặn xâm nhập sâu trong sông, kênh rạch sẽ ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân trong khu vực. Cảnh báo độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long cấp II.
Cùng với việc cảnh báo, nhà chức trách cũng khuyến cáo các địa phương trong vùng cần cập nhật kịp thời các thông tin dự báo khí tượng thủy văn và có các biện pháp chủ động phòng, chống xâm nhập mặn; tranh thủ tích trữ nước ngọt khi triều thấp phục vụ nông nghiệp và dân sinh, đồng thời cần hạn chế tưới nhằm giảm thiểu thiệt hại sản xuất.
Những năm gần đây, các địa phương vùng châu thổ sông Cửu Long (hạ lưu của sông Mekong chảy vào Việt Nam và đổ ra Biển Đông, gồm 9 chi lưu với 9 cửa: Tiểu, Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu, Định An, Ba Thắc, Trần Đề) hứng chịu nhiều “cơn giận dữ” của mẹ thiên nhiên. Trong đó, vấn đề biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng, cùng các công trình thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong,… đã gây ra tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông, ô nhiễm nguồn nước…
Việt Nam là 1 trong 10 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu, nước biển dâng (báo cáo EPCCPL 2023-(Environmental Protection and Climate Change Policies and Law 2023) và đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất so với các vùng khác. Các nghiên cứu cho thấy, trong 30 năm qua, mực nước biển đã dâng khoảng 20 cm, đỉnh triều tăng nhiều hơn chân triều, dẫn đến năng lượng dòng triều tăng.
Toàn vùng châu thổ sông Cửu Long có 17 cửa sông với tổng chiều rộng khoảng 25 km, dẫn đến sự trao đổi nước từ biển vào đã và tiếp tục gia tăng từ 25% - 65%, khiến diện tích bị ngập triều và xâm nhập mặn tăng theo. Cùng với đó, việc tiêu thoát nước cũng khó khăn, dẫn đến tăng diện tích ngập do lũ, do triều và kéo dài thời gian ngập.
Tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (COP26), Việt Nam cùng gần 150 quốc gia đã có những cam kết mạnh mẽ đưa mức phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050. Cam kết này một lần nữa được Việt Nam khẳng định lại tại Hội nghị COP27.
Các cam kết về giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu trong những năm gần đây không còn giới hạn ở các quốc gia phát triển có mức phát thải cao, mà bao gồm cả những quốc gia đang phát triển, dễ bị tổn thương trước những tác động của biến đổi khí hậu.
Chính phủ Việt Nam đã cam kết mạnh mẽ tại các Công ước khung nói trên, là minh chứng cho nỗ lực rất lớn của Việt Nam và các quốc gia đang phát triển khác trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, đây lại là một thách thức không nhỏ đối với một trong số quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, với “vựa thóc và nông nghiệp” cả nước chịu tác động lớn nhất, mạnh nhất.
Cụ thể, diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long chỉ chiếm 12% nhưng sản xuất lúa chiếm tới 47% diện tích và 56% sản lượng lúa cả nước; xuất khẩu gạo của vùng chiếm 90% sản lượng; thủy sản chiếm 70% diện tích nuôi trồng, 40% sản lượng và 60% xuất khẩu của cả nước; diện tích cây ăn trái chiếm 36,5% với trên 50% sản lượng cả nước...
Việc gia tăng nhu cầu sử dụng nước cho canh tác nông nghiệp đã dẫn đến áp lực tăng các công trình thủy lợi, quá tải các công trình thủy lợi. Nhằm điều tiết, kiểm soát nguồn nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp của vùng, các công trình thủy lợi đã được đầu tư xây dựng, đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát lũ, xâm nhập mặn, cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân và sản xuất nông nghiệp.
Tuy vậy, các hiện tượng thời tiết chu kỳ như El Nino, La Nina… đã tác động không nhỏ đến hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như sinh hoạt. Chẳng hạn, thời kỳ ảnh hưởng của El Nino thì xâm nhập mặn rất nặng, nghiêm trọng; thời kỳ chịu ảnh hưởng của La Nina thì mực nước dâng cao, ngập lụt sâu… Những hệ lụy này đều ảnh hưởng trực tiếp đến lúa và cây trồng, tác động tiêu cực đến kinh tế nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản…
Một trong những giải pháp ưu tiên được các chuyên gia trong và ngoài nước khuyến cáo, là thay vì chạy theo chống lũ, chống hạn, chống mặn, khắc phục thiên nhiên, hãy “chung sống cùng thiên nhiên”, phát triển thuận thiên, cân bằng và có chọn lọc giữa kinh tế với bảo vệ môi trường để phát triển bền vững.
Khoản vay xanh hợp vốn quốc tế trị giá 105 triệu USD do HSBC thu xếp sẽ giúp Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) triển khai hệ thống pin lưu trữ năng lượng tại 70 trạm biến áp hiện hữu, nhằm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu phụ tải và hạn chế nguy cơ quá tải lưới điện...
Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026, các chuyên gia cho rằng sự kết hợp công nghệ với quản trị dữ liệu có thể giúp nông nghiệp Việt Nam nâng cao năng suất, tiết giảm chi phí và cải thiện vị thế trong chuỗi giá trị…
Trong khi thế giới đang “khát” pin lưu trữ, Trung Quốc lại bất ngờ tạm dừng xét duyệt hàng loạt nhà máy mới vì lo ngại nguy cơ dư thừa công suất. Liệu ngành pin có lặp lại vết xe của điện mặt trời khi đầu tư ồ ạt, giá lao dốc và lợi nhuận bị bào mòn?
Diễn đàn “Phát triển công nghiệp dầu khí Việt Nam: Đảm bảo tăng trưởng bền vững” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy – Vietnam Economic Times tổ chức sẽ diễn ra chiều 29/10/2026 tại Trung tâm hội nghị BMC, tầng 11, Tòa nhà V.E.T Building, 98 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội.
Các công nghệ thu giữ và lưu trữ CO₂ (CCS), cũng như thu giữ, sử dụng và lưu trữ CO₂ (CCUS) đang được xem là một trong những giải pháp tiềm năng, mở ra thêm hướng tiếp cận trong quá trình giảm phát thải, đặc biệt đối với các ngành công nghiệp khó cắt giảm phát thải. Theo đánh giá, Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng lưu trữ CO₂ tốt nhất ở khu vực Đông Nam Á với tiềm năng lưu trữ lên đến 71 tỷ tấn CO2, tập trung chủ yếu ở 3 khu vực địa chất...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Thảo luận Luật Nhà ở (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội cho rằng, đối với các dự án nhà ở cho thuê do Nhà nước đầu tư để dẫn dắt thị trường thì cần yêu cầu công khai đầy đủ cấu phần giá thành gồm chi phí đất, xây dựng, tài chính, quản lý, vận hành, bảo trì và các khoản chi phí hợp pháp khác. Việc công khai này giúp hình thành mặt bằng tham chiếu đáng tin cậy cho thị trường...