Theo Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, Bộ Công Thương, tính đến tháng 9/2025, Việt Nam đã thành lập 536 khu công nghiệp, trong đó có 434 khu đã đi vào vận hành và 102 khu đang trong giai đoạn đầu tư. Các khu công nghiệp này tập trung chủ yếu tại các vùng kinh tế trọng điểm như Đồng bằng Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng. Bên cạnh đó, cả nước còn có hơn 2.000 cụm công nghiệp với 715 cụm đã hoạt động, đạt tỷ lệ lấp đầy 66,4%.
"NÚT THẮT" TỪ NGUỒN LỰC, CÔNG NGHỆ LỖI THỜI
Tỷ lệ năng lượng tiêu thụ của ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, đặc biệt tại các khu, cụm công nghiệp là nơi tập trung các doanh nghiệp tiêu thụ năng lượng trọng điểm. Đáng chú ý, tại một khu công nghiệp, cụm công nghiệp điển hình hiện nay, điện năng tiêu thụ đang chiếm tới 80%, gần 20% còn lại là các dạng năng lượng khác như dầu DO hoặc năng lượng tái tạo.
Tại hội thảo “Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả: Lực đẩy từ chính sách và công nghệ”, ông Nguyễn Trọng Hậu, Trưởng phòng Tư vấn Giải pháp, Công ty Cổ phần Giải pháp Công nghệ Việt Nam, cho rằng thực trạng sử dụng năng lượng trong khu, cụm công nghiệp vẫn còn phân hóa mạnh. Tính đa dạng về ngành nghề cao nhưng mức độ tiếp cận công nghệ, cũng như các chính sách về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả tại các cụm công nghiệp còn tương đối hạn chế, khiến tiềm năng tiết kiệm năng lượng ở khu vực này còn rất lớn.
Không chỉ là câu chuyện tiết kiệm chi phí nội bộ, việc tối ưu hóa năng lượng hiện nay đã trở thành "tấm thị thực" để hàng hóa Việt Nam bước ra thế giới. Đối với các ngành hàng xuất khẩu chủ lực như dệt may hay sản xuất đồ gỗ nội thất, để sản phẩm có thể cạnh tranh và cung ứng cho các nhãn hàng quốc tế, doanh nghiệp bắt buộc phải đáp ứng các tiêu chí nghiêm ngặt về năng lượng và môi trường.
Nhằm đồng hành cùng doanh nghiệp, Chính phủ đã ban hành Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019-2030. Hàng năm, Cục Đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và Khuyến công cùng các tổ chức triển khai các chương trình hỗ trợ kỹ thuật, đánh giá để giúp doanh nghiệp tìm ra giải pháp thiết thực. Đặc biệt, xu hướng phát triển khu công nghiệp sinh thái theo Nghị định số 35/2022/NĐ-CP của Chính phủ (áp dụng từ năm 2022) và Thông tư 05 hướng dẫn đăng ký đang mở ra định hướng toàn diện.
Dù đã có những chuyển biến, song ông Hậu chỉ ra rằng công tác quản lý năng lượng tại các doanh nghiệp vẫn vấp phải những "nút thắt" lớn về mặt nguồn lực và công nghệ. Hầu hết các cơ sở sản xuất hiện tập trung tiêu thụ năng lượng vào các hệ thống cốt lõi như động cơ, khí nén, lò hơi, lò nung, hệ thống lạnh và chiếu sáng.
Qua đợt khảo sát thực tế của Bộ Công Thương tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và 90 doanh nghiệp trọng điểm trên toàn quốc, có một thực tế là đối với hệ thống chiếu sáng công cộng phần lớn đã chuyển đổi sang công nghệ tiết kiệm như đèn LED. Dẫu vậy, doanh nghiệp mới dừng lại ở việc thay đổi công nghệ phần cứng. Các biện pháp quản lý vận hành tinh vi hơn như điều khiển bật tắt theo mùa, sử dụng bộ điều giảm độ sáng vẫn chưa được kiểm soát triệt để.
Bổ sung thêm, đại diện Ariston Group cho biết trên 50% tổng tiêu thụ năng lượng quốc gia đến từ khu vực công nghiệp (số liệu năm 2024); dư địa tiết kiệm năng lượng còn lại trong công nghiệp Việt Nam từ 20-30%. Nhưng các cuộc kiểm toán năng lượng thường dừng lại ở hàng rào nhà xưởng. Ngay bên ngoài hàng rào (là con người - gồm 4,5 triệu lao động khu công nghiệp, nước nóng cho khu lưu trú công nhân…) là một loại phụ tải chưa được tính đến.
Về mặt quản trị, ông Hậu thẳng thắn nhìn nhận: "Nguồn lực nhân sự của chúng ta đang rất hạn chế. Tại các cơ sở trọng điểm, người quản lý năng lượng hiện nay hầu hết đều hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm. Do không có đủ thời gian chuyên trách lẫn năng lực chuyên sâu, việc duy trì cải tiến liên tục hệ thống quản lý năng lượng gặp rất nhiều rào cản" .
Bên cạnh đó, việc thiếu hụt các hệ thống giám sát, đo lường tự động khiến doanh nghiệp không thể thống kê chính xác số liệu real-time (theo thời gian thực), từ đó khó phân tích và phát hiện kịp thời các điểm rò rỉ, lãng phí năng lượng.
KIÊN TRÌ CÁC GIẢI PHÁP CỐT LÕI
Để giải quyết bài toán trên một cách xuyên suốt, đại diện Công ty Cổ phần Giải pháp Công nghệ Việt Nam đề xuất lộ trình hành động tập trung vào hai trụ cột cốt lõi: Kiểm toán năng lượng chuẩn hóa và ứng dụng mô hình công nghệ mới.
Về phương pháp, doanh nghiệp cần thực hiện nghiêm túc quy trình kiểm toán năng lượng theo Thông tư 25, tiêu chuẩn ISO 50002 hoặc chương trình kiểm toán chuyên sâu DEPP3 (hợp tác giữa Bộ Công Thương và Đan Mạch). Quy trình này đòi hỏi phải thu thập dữ liệu tiêu thụ liên tục trong vòng 3 năm quá khứ để đánh giá đúng hiệu suất thiết bị, kết hợp khảo sát hiện trường và đo đạc thực tế.
Về giải pháp kỹ thuật và vận hành, ông Hậu khuyến nghị tập trung vào 4 nhóm giải pháp chiến lược. Trong đó, nâng cao ý thức và năng lực chuyên môn, đẩy mạnh đào tạo, xây dựng đội ngũ nhân sự chuyên trách thay vì kiêm nhiệm là vấn đề quan trọng.
Bên cạnh đó, đổi mới công nghệ và chuyển đổi số thông qua ứng dụng hệ thống giám sát đo lường IoT kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI) để chẩn đoán lỗi; chủ động chuyển đổi sang các dạng nhiên liệu sạch, năng lượng tái tạo thay thế nhiên liệu hóa thạch. Đồng thời, áp dụng tiêu chuẩn quốc tế, vận hành hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn ISO 50001 để số hóa quy trình, đặt mục tiêu tiết kiệm rõ ràng (ví dụ 2-3% mỗi năm) và giám sát chặt chẽ tỷ lệ đạt mục tiêu. Giám sát hành vi và tối ưu hóa hạ tầng bằng việc chuẩn hóa các quy trình, quy định vận hành nội bộ.
Đối với khu vực dùng chung của khu công nghiệp (trạm bơm, xử lý nước thải, lưới điện), cần rà soát đầu tư thiết bị hiệu suất cao hoặc nhân rộng mô hình dịch vụ năng lượng tập trung như cung cấp hơi, khí nén tập trung.
Ở cấp độ vĩ mô, tầm nhìn dài hạn cho các tổ hợp công nghiệp tại Việt Nam phải gắn liền với khái niệm "cộng sinh công nghiệp". Đây là giải pháp tối ưu hóa năng lượng tuần hoàn cực kỳ hiệu quả, cho phép nhà máy này tận dụng phế phẩm, nhiệt thừa hoặc hơi dư của nhà máy khác làm nguồn năng lượng đầu vào cho mình.
Để lộ trình này khả thi, bên cạnh sự chủ động cải tiến của doanh nghiệp, các cơ quan ban ngành cần sớm hoàn thiện hơn nữa các cơ chế chính sách, giúp Ban quản lý các khu công nghiệp và UBND các tỉnh có đủ công cụ hỗ trợ tài chính, kỹ thuật phù hợp, kịp thời tiếp sức cho doanh nghiệp trong tiến trình chuyển đổi xanh.




Dự án GoRice được triển khai tại Cần Thơ, An Giang và Vĩnh Long giai đoạn 2025-2030, hướng tới hỗ trợ 48.200 người hưởng lợi trực tiếp, giảm khoảng 748.000 tấn phát thải carbon và thúc đẩy chuỗi giá trị lúa gạo bền vững, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long...
Biến động giá nhiên liệu đặt doanh nghiệp xăng dầu trước yêu cầu cân đối vốn nhập hàng, hàng tồn kho và lịch thanh toán. Sự kết nối giữa tín dụng và quản trị dòng tiền trở thành điểm tựa giúp doanh nghiệp chủ động duy trì nhịp kinh doanh.
Diễn đàn “Phát triển công nghiệp dầu khí Việt Nam: Đảm bảo tăng trưởng bền vững” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy – Vietnam Economic Times tổ chức sẽ diễn ra chiều 29/10/2026 tại Trung tâm hội nghị BMC, tầng 11, Tòa nhà V.E.T Building, 98 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt để ngành nông nghiệp và môi trường nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng. Tuy nhiên, sản xuất còn phân tán, công nghệ bảo quản, chế biến sâu hạn chế, dữ liệu chưa liên thông đang cản trở tăng trưởng. Tháo gỡ những điểm nghẽn này đòi hỏi tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nhà trường...
Mỗi sáng kiến dù nhỏ, nếu được áp dụng hiệu quả và được chia sẻ, nhân rộng, sẽ tạo nên nguồn lực đổi mới mạnh mẽ…
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Thảo luận Luật Nhà ở (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội cho rằng, đối với các dự án nhà ở cho thuê do Nhà nước đầu tư để dẫn dắt thị trường thì cần yêu cầu công khai đầy đủ cấu phần giá thành gồm chi phí đất, xây dựng, tài chính, quản lý, vận hành, bảo trì và các khoản chi phí hợp pháp khác. Việc công khai này giúp hình thành mặt bằng tham chiếu đáng tin cậy cho thị trường...