Ngày 20/3, UBND TP. Hải Phòng cho biết đang xây dựng quy định về mức thu phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn theo hướng hướng điều chỉnh tăng thêm khoảng 20% giúp thu ngân sách, góp phần đưa thành phố đạt được mục tiêu tăng thu ngân sách 15-25% trong năm 2026.
Trước thời điểm sáp nhập Hải Phòng và Hải Dương, khu vực thành phố Chí Linh và thị xã Kinh Môn (thuộc tỉnh Hải Dương trước đây) được xác định là “vùng lõi khoáng sản” của khu vực phía Tây Hải Phòng. Khu vực này tập trung nhiều loại tài nguyên quan trọng như đá vôi, đất sét, cao lanh, đá silic và các loại đá trầm tích dạng cuội kết.
Đây là nguồn nguyên liệu có giá trị, đóng vai trò nền tảng cho phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, đặc biệt là sản xuất xi măng, đồng thời, phục vụ các ngành công nghiệp chế biến khoáng sản trong nhiều năm qua.
Ngoài các loại khoáng sản chủ yếu nêu trên, khu vực phía Tây Hải Phòng còn có các khoáng sản kim loại như sắt, đồng, niken, coban, khoáng sản năng lượng như than đá, than nâu, than bùn, than mỡ cùng các khoáng sản phi kim đặc thù như cao lanh, mica, thạch anh kỹ thuật, apatit, serpentin, graphit, feldspar…
Giai đoạn 2020–2025, khu vực phía Tây Hải Phòng thực hiện thu phí bảo vệ môi trường đối với 34 loại khoáng sản kim loại và phi kim loại được khai thác trên địa bàn với tổng số thu hơn 148 tỷ đồng. Cụ thể, năm 2020 thu hơn 27,9 tỷ đồng. Năm 2021 hơn 24 tỷ đồng. Năm 2022 hơn 25 tỷ đồng. Năm 2023 hơn 20 tỷ đồng. Năm 2024 hơn 23 tỷ đồng. Năm 2025 hơn 16 tỷ đồng.
Trong khi đó, khu vực phía Đông Hải Phòng (thuộc TP. Hải Phòng trước sáp nhập) chỉ có 9 loại khoáng sản chính, gồm đá vôi (phân bố tại khu vực Bắc Thủy Nguyên, Cát Bà), sét gạch ngói, sét xây dựng, đất san lấp (tại Thủy Nguyên, An Lão), phụ gia silic (Bắc Thủy Nguyên), cát lòng sông, ven biển tại các khu vực Đồ Sơn, Nam Đình Vũ, cửa sông Văn Úc và nước khoáng (Tiên Lãng).
Nguồn khoáng sản tại khu vực phía Đông không đa dạng về chủng loại, trữ lượng thấp, chủ yếu phục vụ sản xuất xi măng và vật liệu san lấp. Tuy nhiên, giai đoạn 2020–2025, số thu phí bảo vệ môi trường tại khu vực này đạt hơn 411 tỷ đồng, cao gấp khoảng 3,6 lần khu vực phía Tây. Trong đó, năm 2020 thu hơn 61 tỷ đồng. Năm 2021 hơn 72 tỷ đồng. Năm 2022 hơn 70 tỷ đồng. Năm 2023 hơn 81 tỷ đồng. Năm 2024 hơn 67 tỷ đồng. Năm 2025 hơn 58 tỷ đồng.
Theo đánh giá của Thuế thành phố Hải Phòng, công tác quản lý thu phí bảo vệ môi trường trong thời gian qua vẫn còn một số bất cập. Cụ thể, việc phối hợp kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác khoáng sản chưa chặt chẽ, tình trạng khai thác vượt công suất, khai thác trái phép vẫn diễn ra tại một số khu vực, dẫn đến thất thu ngân sách.
Theo Thuế thành phố Hải Phòng, mức thu phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản hiện đang được áp dụng ở mức cao nhất theo khung quy định tại Nghị định số 27/2023 của Chính phủ. Tuy nhiên, trong bối cảnh thành phố thực hiện thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù theo Nghị quyết số 226/2025/QH15 của Quốc hội, đồng thời đặt mục tiêu tăng thu ngân sách từ 15–25% trong năm 2026, cơ quan thuế đã đề xuất điều chỉnh tăng thêm 20% mức phí này.
Theo đó, Thuế thành phố đã đề xuất Sở Tài chính trình UBND TP. Hải Phòng báo cáo HĐND thành phố xem xét, quyết định việc tăng mức phí này. Cơ quan thuế cũng đề xuất phân loại lại danh mục khoáng sản từ 34 loại khoáng sản hiện hành lên thành thành 46 loại chi tiết hơn, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế, phí và cấp phép khai thác, phù hợp với giá trị thực tế của từng loại tài nguyên, khoáng sản. Cơ quan thuế ước tính, việc điều chỉnh tăng phí và hoàn thiện danh mục khoáng sản sẽ giúp thành phố tăng thu ngân sách thêm 20 tỷ đồng mỗi năm.
Theo cơ quan chức năng, việc tăng chi phí môi trường sẽ buộc các doanh nghiệp khai thác khoáng sản phải đầu tư công nghệ, tối ưu hóa quy trình sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên để duy trì lợi nhuận. Đồng thời, chi phí này sẽ được tính vào giá thành sản phẩm, góp phần đảm bảo nguyên tắc các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên và gây tác động đến môi trường phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính tương ứng.
Việc điều chỉnh tăng phí bảo vệ môi trường không chỉ mang ý nghĩa về tài chính mà còn tạo thêm nguồn lực để xử lý, khắc phục suy thoái và ô nhiễm môi trường phát sinh từ hoạt động khai thác khoáng sản. Nguồn thu này sẽ được sử dụng cho phục hồi môi trường, cải thiện hạ tầng và giảm thiểu các tác động tiêu cực đến khu vực bị ảnh hưởng hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản, qua đó, góp phần nâng cao chất lượng sống của người dân.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang gấp rút hoàn tất các khâu chuẩn bị cuối cùng để đưa Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông lâm thủy sản vào vận hành từ ngày 1/7/2026. Đến nay, hạ tầng kỹ thuật, kết nối dữ liệu và các mô hình thí điểm đã đạt nhiều kết quả tích cực, tạo nền tảng nâng cao tính minh bạch, hiệu quả quản lý và khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế...
Từ thực tiễn vận hành Feed - Farm - Food, C.P. Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm chăn nuôi heo bền vững tại IPVS 2026.
Ngành phân bón đang nỗ lực tự chủ nguồn cung khi sản xuất trong nước đáp ứng khoảng 80% nhu cầu. Dù phân bón hữu cơ phát triển mạnh và dư thừa NPK, ngành vẫn phải giải bài toán phụ thuộc nhập khẩu kali, SA nhằm đảm bảo sản xuất bền vững trước những biến động địa chính trị và thị trường toàn cầu.
Điểm nghẽn lớn nhất để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 10%/năm trong 20 năm tới, theo GS. TS Nguyễn Thiện Nhân, chính là tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Ông Đào Quang Bính, Phó Chủ tịch Hội đồng biên tập, Tổng giám đốc, Tổng thư ký toà soạn Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy, nhấn mạnh rằng báo chí và doanh nghiệp phải sát cánh cùng nhau, báo chí đưa thông tin về doanh nghiệp “đúng” nhưng phải “đáng”…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Điểm nghẽn lớn nhất để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 10%/năm trong 20 năm tới, theo GS. TS Nguyễn Thiện Nhân, chính là tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.