Đây là mục tiêu đưa ra trong Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới vừa được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành.
Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, nền công nghệ sinh học nước ta đạt trình độ tiên tiến thế giới trên một số lĩnh vực quan trọng, là một trong 10 quốc gia hàng đầu châu Á về sản xuất và dịch vụ thông minh công nghệ sinh học; được ứng dụng rộng rãi trong các ngành, lĩnh vực, góp phần phát triển kinh tế xã hội nhanh, bền vững.
Cùng với đó, xây dựng nền công nghệ sinh học có nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ sở vật chất, tài chính đủ mạnh đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học.
Nghị quyết xác định công nghiệp sinh học trở thành ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng; doanh nghiệp công nghiệp sinh học tăng 50% về quy mô đầu tư và quy mô tăng trưởng, thay thế ít nhất 50% sản phẩm công nghệ sinh học nhập khẩu; đóng góp 7% vào GDP; bảo đảm nhu cầu thiết yếu của xã hội.
Trong tầm nhìn đến năm 2045, Bộ Chính trị đặt mục tiêu Việt Nam là quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển trên thế giới, trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh; khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo về công nghệ sinh học thuộc nhóm dẫn đầu khu vực châu Á. Công nghiệp sinh học đóng góp 10-15% vào GDP.
Để thực hiện các mục tiêu này, Nghị quyết của Bộ Chính trị nêu rõ 5 giải pháp quan trọng cần tập trung triển khai thực hiện.
Thứ nhất là thống nhất nhận thức về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong tình hình mới.
Thứ hai là tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; thu hút các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nghiên cứu, ứng dụng, sản xuất sản phẩm công nghệ sinh học; bảo đảm an toàn sinh học.
Có chính sách vượt trội, phù hợp để phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, sản xuất các sản phẩm công nghệ sinh học có giá trị cao trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, y dược, quốc phòng, an ninh; khuyến khích đầu tư, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học đối với vùng kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo; khuyến khích xuất khẩu sản phẩm công nghệ sinh học; đào tạo, phát hiện, sử dụng nguồn nhân lực công nghệ sinh học.
Xây dựng cơ chế bảo đảm mối liên kết, gắn bó giữa các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển, chuyển giao và ứng dụng công nghệ sinh học; xây dựng, triển khai các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học.
Thứ ba là tập trung phát triển, ứng dụng hiệu quả công nghệ sinh học trong sản xuất và đời sống; phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nghị quyết nhấn mạnh việc chú trọng nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp, tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi thích nghi với biến đổi khí hậu, chống chịu sâu bệnh, có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao; các vaccine và chế phẩm sinh học phòng bệnh cho vật nuôi, cây trồng, nhất là các loại dịch bệnh nguy hiểm, mới phát sinh, góp phần xây dựng nền nông nghiệp thông minh, an toàn, hiệu quả, bảo tồn và phát triển các nguồn gen quý, hiếm.
Phát triển, ứng dụng, hiện đại hoá công nghệ sinh học trong công nghiệp chế biến các sản phẩm an toàn, hiệu quả, có giá trị cao từ nguồn nguyên liệu trong nước. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực y tế. Tập trung nghiên cứu, sản xuất thuốc, vaccine đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh và phòng, chống dịch bệnh; nghiên cứu công nghệ tế bào gốc trong công nghiệp dược phẩm, công nghệ gen, sản xuất nguyên liệu và các loại thuốc sinh học, thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ thảo dược.
Tập trung xây dựng ngành công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng phục vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sớm quy hoạch phát triển công nghiệp sinh học, khai thác tối đa lợi thế vùng nhằm sản xuất các sản phẩm chủ lực phục vụ phát triển kinh tế xã hội; liên kết các doanh nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm công nghệ sinh học….
Thứ tư là xây dựng nguồn nhân lực công nghệ sinh học, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học.
Thứ năm là đẩy mạnh hợp tác quốc tế về công nghệ sinh học. Có chính sách mua, chuyển giao, trao đổi công nghệ sinh học, trong đó quan tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ mới, công nghệ có giá trị cao của thế giới vào Việt Nam…
Công nghệ sinh học Việt Nam đã có bước phát triển nhanh, đạt được nhiều thành tựu quan trọng; ứng dụng ngày càng rộng rãi trong đời sống xã hội, tạo đột phá trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp chế biến, y dược, môi trường. Công nghiệp sinh học từng bước được hình thành; nhiều doanh nghiệp đã đầu tư nghiên cứu, sản xuất, thương mại hoá sản phẩm công nghệ sinh học trên một số lĩnh vực với quy mô lớn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh…
Tuy nhiên, Nghị quyết của Bộ Chính trị nhận xét, công nghệ sinh học phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; năng lực công nghệ sinh học chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ. Một số lĩnh vực quan trọng của công nghệ sinh học lạc hậu so với khu vực và thế giới. Công nghiệp sinh học chưa trở thành một ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng; đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực công nghệ sinh học còn nhiều hạn chế, bất cập.
14 startup từ Đài Loan (Pre-A, Series A) và đại diện các quỹ đầu tư trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), sản xuất thông minh, chuyển đổi số, thúc đẩy hợp tác công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa hai hệ sinh thái…
Việt Nam hiện đã đạt nhiều kết quả quan trọng trong nghiên cứu, phát triển cũng như thương mại hóa công nghệ 5G, và hiện tiếp tục đặt mục tiêu rút ngắn thời gian làm chủ công nghệ 6G, để tiến tới triển khai sớm trong thời gian tới...
Bộ Khoa học và Công nghệ xác định trong quá trình nghiên cứu, phát triển kinh tế không gian tầm thấp tại Việt Nam, các phương tiện bay chỉ là công cụ, còn giá trị kinh tế thực sự nằm ở hệ sinh thái công nghệ, dữ liệu và các dịch vụ đi kèm...
Tính đến hết tháng 7/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức đánh giá, xét chọn 48 nhiệm vụ khoa học công nghệ, ký 9 hợp đồng tài trợ, nghiệm thu 20 nhiệm vụ cấp quốc gia, cấp mới 292 tỷ đồng kinh phí nghiên cứu...
Luật Báo chí 2025 ra đời mở rộng không gian hoạt động báo chí, xác lập địa vị pháp lý các kênh nội dung đưa lên không gian mạng; thúc đẩy chuyển đổi số và mô hình báo chí đa dịch vụ, tăng cường quản lý của nhà nước.
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.