Chứng khoán Mirae Asset vừa có báo cáo cập nhật triển vọng ngành ngân hàng trong đó nhấn mạnh mặc dù lãi suất huy động tăng đáng kể 120 điểm phần trăm từ cuối năm 2025, chênh lệch tăng trưởng tín dụng và huy động vẫn ở mức cao trong quý 1/2026 (2,63%) và giữa tháng 5/2026 (2,73%).
Tình hình nhiều khả năng vẫn chưa cải thiện trong tháng 6 sau động thái điều chỉnh tỷ lệ tiền gửi kho bạc Nhà nước có kỳ hạn trong công thức tính LDR tăng trở lại từ 0% (áp dụng từ đầu 2026) lên 20% từ 15/5/2026. Tỷ lệ LDR thực tế cuối quý 1/2026 cho thấy mặc dù nhóm các ngân hàng lớn vẫn duy trì khả năng tuân thủ trần, tỷ lệ hiện tại tiệm cận rất gần ngưỡng tối đa và thu hẹp dư địa điều tiết cho các ngân hàng.
Vì vậy, mặc dù Ngân hàng Nhà nước tích cực định hướng giảm lãi suất, xu hướng chung cho thấy lãi suất duy trì hơn là giảm đáng kể.
Ngoài ra, nhiều ngân hàng trung ương lớn cũng có khả năng duy trì định hướng thắt chặt trong thời gian tới, qua đó áp lực lên lãi suất nội địa neo ở vùng cao, và nhiều khả năng tiếp tục duy trì trong thời gian tới.
Thêm vào đó, lãi suất kênh liên ngân hàng vẫn ở mức cao, đặc biệt trong các giai đoạn cuối kỳ báo cáo tháng/quý, cho thấy nhu cầu huy động ngắn hạn để đáp ứng các tiêu chí thanh khoản từ các Ngân hàng Thương mại là không hề nhỏ, ảnh hưởng đến chi phí huy động của các ngân hàng.
Các ngân hàng lớn mặc dù vẫn duy trì được tỷ lệ huy động ngắn hạn cho vay trung và dài hạn (SFML) phù hợp, dư địa cũng ngày càng thu hẹp. Ngược lại, nhu cầu cung ứng vốn từ hệ thống tín dụng cho các dự án/đại dự án (vay dài hạn) lại tương đối lớn và cấp bách.
Ngoài các áp lực đến từ cả yếu tố nội tại và bên ngoài như đã đề cập, cũng theo Mirae Asset, việc duy trì lãi suất ổn định đã là một nỗ lực đáng kể từ phía cả cơ quan quản lý và các tổ chức tín dụng.
Trong bối cảnh đó, để vừa đảm bảo tăng trưởng tín dụng phù hợp với định hướng chung của Chính phủ/Ngân hàng Nhà nước, vừa đáp ứng kỳ vọng của cổ đông, các tiêu chí an toàn thanh khoản vẫn cần được đảm bảo, đồng thời yêu cầu tăng trưởng lợi nhuận tương ứng nhằm hạn chế nguy cơ pha loãng.
Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận ra trong 2-3 năm trở lại đây thu nhập thuần từ cho vay hay biên lãi thuần của ngành ngân hàng có sự lệch pha hay thu hẹp không hề nhỏ và lợi nhuận thực tế được hỗ trợ từ nhiều nguồn thu không cốt lõi (lợi nhuận giao dịch tài sản tài chính, thu hồi nợ xấu,...), hay cắt giảm chi phí hoạt động (đầu tư, công nghệ, nhân sự) hay chi phí dự phóng.
Những động thái này được cho là sẽ khó duy trì trong dài hạn, đã được tận dụng khá nhiều trong giai đoạn 2024-2025. Ngoài ra, với bối cảnh lãi suất tăng thì biên lợi suất giữa cho vay và huy động cũng cần mở rộng, vì biên lợi suất được xem là phần bù cho các rủi ro như chênh lệch kỳ hạn, chi phí cho các hoạt động liên quan, và cũng không thể thiếu chi phí cho các rủi ro tín dụng (tỷ lệ thuận với lãi suất).
Thay vì hỗ trợ thanh khoản trực tiếp vào hệ thống từ phía nhà điều hành, dự thảo mới sửa đổi Thông tư 22/2019/TT-NHNN cho phép sử dụng nhiều vốn ngắn hạn hơn cho các hoạt động tín dụng trung và dài hạn, qua đó không ảnh hưởng trực tiếp đến cung tiền, tránh ảnh hưởng đến tỷ giá và lạm phát, nhưng được kỳ vọng sẽ giảm áp lực tái cơ cấu kỳ hạn đối với các Ngân hàng Thương mại.
Theo đó, ngày 17/6/2026, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố dự thảo sửa đổi Thông tư 22/2019/TT-NHNN, trong đó đề xuất nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn (SMLR) từ mức 30% hiện hành lên 40%. Đây là thay đổi đáng chú ý khi tỷ lệ này đã được siết giảm theo lộ trình từ 40% xuống 30% kể từ 2020 đến nay nhằm hạn chế rủi ro kỳ hạn trong hệ thống ngân hàng.
Nhìn chung, nếu được sớm áp dụng, dự thảo thông tư sẽ hỗ trợ thu nhập cho các thành phần kinh tế bao gồm Ngân hàng thương mại ổn định biên lãi suất và các thực thể có nhu cầu vay lãi suất cho vay không tiếp tục tăng.
Nhận định về Thông tư 22, Chứng khoán KBSV cũng kỳ vọng sẽ tạo tác động tích cực lên ngành ngân hàng ở các khía cạnh khác nhau.
Thứ nhất, biên lãi ròng (NIM): Việc nới trần tỷ lệ cho phép các Ngân hàng Thương mại gia tăng tỷ trọng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn có chi phí vốn (COF) thấp hơn để tài trợ cho danh mục tín dụng trung và dài hạn, qua đó giảm áp lực huy động vốn kỳ hạn dài hoặc phát hành giấy tờ có giá với COF cao hơn đáng kể và cải thiện NIM.
Thứ hai, Tăng trưởng tín dụng: Trong bối cảnh Chính phủ đẩy mạnh đầu tư công, phát triển hạ tầng chiến lược và thúc đẩy đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn trung và dài hạn được kỳ vọng duy trì tích cực. Việc điều chỉnh SMLR lên 40% góp phần gia tăng khả năng cung ứng vốn trung và dài hạn, đồng thời giảm bớt áp lực về cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn của hệ thống.
Tuy nhiên, cũng không loại trừ khả năng mức độ mất cân đối giữa kỳ hạn nguồn vốn và kỳ hạn tài sản gia tăng khi các Ngân hàng Thương mại đẩy mạnh tài trợ cho các khoản vay trung dài hạn bằng nguồn vốn ngắn hạn.
Do đó, cùng với xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ của ngành ngân hàng, yêu cầu về quản trị tài sản – nguồn vốn và kiểm soát rủi ro thanh khoản cần được chú trọng hơn, đặc biệt trong bối cảnh lãi suất biến động như hiện tại.
KBSV kỳ vọng nhóm ngân hàng sở hữu tỷ lệ SMLR tiệm cận mức trần 30% (theo quy định tại Thông tư 22/2019/TT-NHNN); danh mục cho vay trung dài hạn chiếm tỷ trọng lớn, và nguồn vốn CASA dồi dào sẽ có lợi thế rõ nét hơn một khi dự thảo được thông qua.
Giá dầu thô lao dốc khoảng 4%, về mức thấp nhất kể từ trước khi cuộc chiến tranh ở Vùng Vịnh bắt đầu...
Đồng USD tiếp tục giảm giá trong phiên ngày thứ Sáu, tạo điều kiện cho sự phục hồi của giá vàng...
VHM, VIC nỗ lực duy trì mức tăng mạnh trong phiên cuối tuần là nguyên nhân chính giúp VN-Index còn có màu xanh, dù mức tăng chỉ là 0,47%. Thanh khoản tiếp tục ở mức cực thấp cho thấy sự kiên nhẫn chờ đợi của dòng tiền.
Chứng khoán VnDirect cho rằng nhóm hưởng lợi lớn nhất sẽ là các ngân hàng có năng lực tài trợ dự án lớn, thanh khoản tốt và kinh nghiệm thu xếp các khoản vay hợp vốn, bao gồm VCB, BID, CTG và TCB.
Giá dầu thô bật tăng sau mấy phiên giảm sâu, sau khi có tin Iran tấn công tàu bè ở eo biển Hormuz...
Kinh tế ngày nay không còn là một lĩnh vực tách biệt, mà được định hình mạnh mẽ bởi địa chính trị, công nghệ và tính bền vững. Giữa dòng chảy thông tin dồi dào, điều độc giả cần nhất ở báo chí chính thống là bối cảnh, góc nhìn chuyên sâu và sự tin cậy. Trong giai đoạn tới, sứ mệnh lớn nhất của báo chí kinh tế không phải là trở thành người đưa tin nhanh nhất, mà là trở thành nền tảng tinh thần của nền kinh tế.
Hạ tầng năng lượng thông minh đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa vận hành hệ thống năng lượng, tăng cường khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xanh của Việt Nam. Nhận diện các cơ hội và thách thức, đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng năng lượng thông minh đang là yêu cầu cấp thiết.