Tại Họp báo thường kỳ tháng 5 của Bộ Khoa học và Công nghệ diễn ra ngày 1/6, ông Trần Lê Hồng, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, đã thông tin về kết quả triển khai Công điện số 38/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp đấu tranh, ngăn chặn và xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Theo ông Hồng, ngay sau khi Công điện số 38 được ban hành ngày 5/5, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2309/QĐ-BKHCN ngày 6/5 nhằm đẩy mạnh công tác đấu tranh, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Sau ba tuần triển khai, đến ngày 27/5, các bộ, ngành và địa phương trên cả nước đã phát hiện, xử lý 1.438 vụ việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trong đó đã xử lý hành chính 1.146 vụ. Cơ quan chức năng đã khởi tố hình sự 28 vụ việc; tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính đạt 12,6 tỷ đồng, trong khi giá trị hàng hóa vi phạm bị phát hiện ước gần 36 tỷ đồng. Đáng chú ý, khoảng 30 vụ việc nghiêm trọng, phức tạp và điển hình đã được phát hiện, xử lý.
Ông Hồng cho biết, chỉ sau 3 tuần ra quân, số vụ việc bị xử lý vi phạm hành chính đã cao gấp khoảng ba lần mức trung bình của một tháng trong năm 2025. Số vụ án hình sự liên quan đến xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được khởi tố đã tương đương khoảng 60% tổng số vụ án cùng loại được khởi tố trong cả năm 2025.
Theo thống kê, số vụ việc do lực lượng quản lý thị trường xử lý trong tháng 5 đã tăng khoảng 210% so với cùng kỳ năm 2025 và vượt khoảng 158% so với chỉ tiêu đề ra cho cả năm 2026.
Để tăng cường hiệu quả thực thi, nhiều địa phương đã thành lập các tổ công tác liên ngành, đẩy mạnh phối hợp giữa lực lượng công an, quản lý thị trường, hải quan và các cơ quan chức năng trong công tác kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm.
Bên cạnh đó, Cục Sở hữu trí tuệ cũng tăng cường hỗ trợ chuyên môn cho các cơ quan thực thi, cung cấp ý kiến chuyên môn phục vụ quá trình xử lý các vụ việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu công nghiệp; đồng thời công khai các đầu mối hỗ trợ tra cứu, phối hợp cung cấp thông tin nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực thi trên phạm vi cả nước.
Bộ Khoa học và Công nghệ đang phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về thực thi quyền sở hữu trí tuệ, dự kiến triển khai trong năm 2026 và tiếp tục được phát triển, duy trì bền vững trong những năm tiếp theo.
Theo đại diện Bộ, trước mắt, thông qua việc tổng hợp báo cáo hằng ngày theo yêu cầu của Công điện số 38/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ đang từng bước hình thành nguồn dữ liệu ban đầu về tình hình phát hiện và xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi cả nước.
Dự kiến, cơ sở dữ liệu sẽ tích hợp thông tin về kết quả xử lý vi phạm hành chính và hình sự; các vụ việc điển hình, nghiêm trọng, phức tạp; dữ liệu về đối tượng quyền sở hữu trí tuệ; thông tin phục vụ xác định yếu tố xâm phạm; kết quả giám định và các hoạt động xử lý vi phạm của các cơ quan thực thi trên toàn quốc.
Khi được đưa vào vận hành, hệ thống sẽ hỗ trợ các cơ quan chức năng tra cứu, chia sẻ và đối chiếu thông tin nhanh chóng hơn, qua đó nâng cao hiệu quả phối hợp trong xử lý các vụ việc. Đồng thời, đây cũng sẽ là công cụ quan trọng phục vụ công tác thống kê, phân tích và dự báo xu hướng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách và triển khai các hoạt động thực thi trên phạm vi cả nước.
Liên quan đến hoàn thiện khung pháp lý, Bộ Khoa học và Công nghệ đã trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 99/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Sau quá trình tiếp thu, giải trình ý kiến của các thành viên Chính phủ, nghị định sửa đổi đã được ban hành.
Theo quy định mới, một số cơ quan được bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp nhằm khắc phục khoảng trống trong thực thi, tăng cường bám sát địa bàn và đẩy nhanh quá trình phát hiện, xử lý vi phạm.
Đáng chú ý, nghị định bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả là ngăn chặn truy cập đối với các tên miền xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Quy định này được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm trên môi trường số, đồng thời tháo gỡ những khó khăn trong việc xử lý các tên miền quốc tế do các nhà cung cấp dịch vụ không đặt trụ sở tại Việt Nam quản lý.




Các đại biểu cho rằng cần cụ thể hóa tiêu chí xác định cấp độ rủi ro trên cơ sở tính chất, mức độ quan trọng của dữ liệu, để bảo đảm tính khoa học, thống nhất và khả thi trong thực tiễn. Mục tiêu không chỉ là giảm số lượng thủ tục hành chính, mà phải giảm thực chất nghĩa vụ tuân thủ trùng lặp, kết hợp giữa tiền kiểm, hậu kiểm và trách nhiệm giải trình...
Đóng góp ý kiến vào dự án Luật Định danh và xác thực điện tử, Đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung quy định bảo đảm quyền tự chủ, kiểm soát danh tính điện tử của người dân, đồng thời giới hạn việc thu thập dữ liệu cá nhân và sinh trắc học ở mức tối thiểu cần thiết cho từng giao dịch có mục đích hợp pháp…
Dự thảo Luật An ninh dữ liệu quy định 5 cấp độ rủi ro an ninh dữ liệu; chủ quản dữ liệu tự xác định cấp độ, áp dụng biện pháp bảo vệ tương xứng và chịu trách nhiệm về kết quả xác định, theo cơ chế hậu kiểm là chủ yếu…
Trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Việt Nam và Ấn Độ thảo luận sáu nhóm lĩnh vực hợp tác, từ phát triển nhân lực, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn đến công nghệ khí hậu, y tế và kết nối đầu tư…
Dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử quy định nguyên tắc công nhận lẫn nhau đối với danh tính điện tử, kết quả xác thực của nước ngoài để sử dụng trong giao dịch xuyên biên giới; sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan của Luật Giao dịch điện tử, Luật Căn cước, Luật Chuyển đổi số, Luật Thương mại điện tử và Luật Đầu tư để bảo đảm thống nhất trong hệ thống pháp luật...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.