Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tỉnh Quảng Trị ước tính tăng 5,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 3,34%; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 4,55%; khu vực dịch vụ tăng 6,14%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 3,97%.
Về cơ cấu kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng 20,39%; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 31,88%; khu vực dịch vụ chiếm 43,81%; thuế trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 3,92% (cơ cấu tương ứng của 6 tháng đầu năm 2023 là: 22,81%; 25,81%; 47,17%; 4,21%).
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Quảng Trị từ đầu năm đến ngày 15/6/2024 đạt hơn 2.000 tỷ đồng, bằng 51,63% dự toán địa phương và tăng 27,67% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tỉnh này thu nội địa 1.451,97 tỷ đồng, bằng 49,20% dự toán và tăng 34,41%; thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu 498,34 tỷ đồng, bằng 52,46% dự toán và tăng 1,17%.
Trong thu nội địa, một số khoản thu lớn như: thu ngoài quốc doanh 581,71 tỷ đồng, tăng 29,65% so với cùng kỳ năm trước; thu về nhà đất 335,76 tỷ đồng, tăng 192,49%; thu phí và lệ phí 133,65 tỷ đồng, tăng 20,50%; thu từ doanh nghiệp nhà nước 97,58 tỷ đồng, tăng 1,90%; thuế bảo vệ môi trường 84,10 tỷ đồng, giảm 0,83%; thuế thu nhập cá nhân 80,13 tỷ đồng, tăng 0,31%.
Tình hình huy động vốn trên địa bàn tỉnh này đến ngày 31/5/2024 đạt 38.537 tỷ đồng, tăng 5,76% so với cuối năm 2023; tổng dư nợ cho vay đối với nền kinh tế đạt 52.405 tỷ đồng, tăng 1,54%; nợ xấu là 622 tỷ đồng, chiếm 1,19% tổng dư nợ, tăng 44,77% so với cuối năm 2023.
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 6/2024 của Quảng Trị ước tính tăng 9,51% so với tháng trước và tăng 3,26% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, chỉ số sản xuất công nghiệp của tỉnh này ước tính tăng 2,52% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: ngành khai khoáng tăng 0,72%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,68%; sản xuất và phân phối điện tăng 1,15%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,65%. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 6 tháng đầu năm nay tăng trưởng thấp.
Một số sản phẩm chủ yếu của Quảng Trị trong 6 tháng đầu năm 2024 tăng cao so cùng kỳ năm trước, như: thủy hải sản chế biến tăng 70,88%; com lê, quần áo tăng 20,50%; phân hóa học tăng 18,51%; bia lon tăng 14,67%; tinh bột sắn tăng 14,44%...
Hoạt động thương mại và dịch vụ 6 tháng đầu năm 2024 của tỉnh Quảng Trị chuyển biến theo chiều hướng tích cực, kết quả tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý 2 có dấu hiệu khởi sắc hơn so với quý I.
Cụ thể, tính chung 6 tháng đầu năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 17.288,10 tỷ đồng, tăng 12,26% so với cùng kỳ năm trước.
Hoạt động vận tải 6 tháng đầu năm 2024 của tỉnh này tăng trưởng khá cả về vận tải hành khách và hàng hoá so với cùng kỳ năm trước do thời tiết khá thuận lợi, các hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng có những chuyển biến tích cực, nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hoá tăng…
Ước tính 6 tháng đầu năm 2024, hành khách vận chuyển tăng 5,86%, hành khách luân chuyển tăng 6,81%; hàng hoá vận chuyển tăng 6,11%, hàng hoá luân chuyển tăng 7,38% so với cùng kỳ năm trước.
Theo số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Trị, từ đầu năm đến 15/6/2024, toàn tỉnh có 172 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 30,92% (-77 doanh nghiệp) so với cùng kỳ năm trước; tổng vốn đăng ký là 1.481 tỷ đồng, giảm 34,60%; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 8,61 tỷ đồng, giảm 5,33%.
Số doanh nghiệp trở lại hoạt động tại tỉnh này là 105 doanh nghiệp, tăng 6,06% ( 6 doanh nghiệp) so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 278 doanh nghiệp, tăng 25,79% ( 57 doanh nghiệp); số doanh nghiệp giải thể là 32 doanh nghiệp, giảm 8,57% (3 doanh nghiệp).
Trong số doanh nghiệp thành lập mới 6 tháng năm 2024, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có 4 doanh nghiệp, chiếm 2,33% và giảm 33,33% so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp xây dựng có 68 doanh nghiệp, chiếm 39,53% và giảm 20%; khu vực dịch vụ có 100 doanh nghiệp, chiếm 58,14% và giảm 36,71%.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang gấp rút hoàn tất các khâu chuẩn bị cuối cùng để đưa Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông lâm thủy sản vào vận hành từ ngày 1/7/2026. Đến nay, hạ tầng kỹ thuật, kết nối dữ liệu và các mô hình thí điểm đã đạt nhiều kết quả tích cực, tạo nền tảng nâng cao tính minh bạch, hiệu quả quản lý và khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế...
Từ thực tiễn vận hành Feed - Farm - Food, C.P. Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm chăn nuôi heo bền vững tại IPVS 2026.
Ngành phân bón đang nỗ lực tự chủ nguồn cung khi sản xuất trong nước đáp ứng khoảng 80% nhu cầu. Dù phân bón hữu cơ phát triển mạnh và dư thừa NPK, ngành vẫn phải giải bài toán phụ thuộc nhập khẩu kali, SA nhằm đảm bảo sản xuất bền vững trước những biến động địa chính trị và thị trường toàn cầu.
Điểm nghẽn lớn nhất để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 10%/năm trong 20 năm tới, theo GS. TS Nguyễn Thiện Nhân, chính là tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Ông Đào Quang Bính, Phó Chủ tịch Hội đồng biên tập, Tổng giám đốc, Tổng thư ký toà soạn Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy, nhấn mạnh rằng báo chí và doanh nghiệp phải sát cánh cùng nhau, báo chí đưa thông tin về doanh nghiệp “đúng” nhưng phải “đáng”…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Điểm nghẽn lớn nhất để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 10%/năm trong 20 năm tới, theo GS. TS Nguyễn Thiện Nhân, chính là tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.