double-skinned crabsVietnamese crab exporter
VnEconomy
VnEconomy

Ghé thăm rừng đước ngập mặn của hộ gia đình anh Đinh Văn Đường, ấp Xưởng Tiện, xã Viên An Đông, anh Đường cho biết gia đình nuôi thủy sản từ những năm 1990. Trước kia, nuôi trong ao hồ nhỏ của gia đình, thâm canh với mật độ thả nuôi lớn, chi phí đầu tư cao do phải mua con giống và thức ăn, nên lợi nhuận rất thấp, bình quân mỗi tháng chỉ được 5-7 triệu đồng. Có những vụ, tôm bị dịch bệnh chết nhiều, thua lỗ nặng.

Từ năm 2018, gia đình anh được Ban quản lý rừng phòng hộ Đất Mũi phối hợp với dự án GCF (Dự án tăng cường khả năng chống chịu với những tác động của biến đổi khí hậu cho các cộng đồng dễ bị tổn thương ven biển Việt Nam), giao 4 ha đất ngập mặn để trồng rừng. Anh đào các rạch nước xen kẽ, lấy đất đắp thành những dải đất cao, sau đó trồng cây đước thành rừng. Năm 2019, gia đình anh Đường được Dự án GCF hỗ trợ tiền mua con giống thủy sản để thả nuôi dưới các rạch nước trong rừng do gia đình quản lý.

“Từ khi trồng rừng ngập mặn, cản được bão gió, hạn chế xói lở. Dưới tán rừng nuôi tôm, cua, ốc len... theo hình thức quảng canh. Nhờ có tán rừng che nắng, khí hậu mát mẻ, tôm cua có chỗ ém, sinh trưởng tốt hơn. Lại có rong rêu, có tảo làm thức ăn, không tốn chi phí thức ăn, nên lợi nhuận cao hơn. Nuôi tôm cua kết hợp, tôm và cua bể có tính cộng sinh nên khi nuôi chung đều phát triển rất tốt, thích nghi tốt với môi trường ao nuôi, cho năng suất cao hơn so với với nuôi tôm độc canh trước đây”, anh Đường chia sẻ.

VnEconomy

Theo kinh nghiệm của anh Đường, thường phải thả tôm trước từ 1,5 - 2 tháng, sau đó mới thả cua để tránh hiện tượng ăn nhau giữa 2 loài. Cua được thả nuôi ở mật độ thưa khoảng mỗi m2 thả 1 con, trung bình từ 2 - 3 tháng bổ sung cua giống 1 lần. Khi cua đạt kích cỡ thương phẩm thì thu tỉa. Mỗi tháng, thu hoạch tôm 2 lần vào những ngày con nước (giữa tháng và cuối tháng âm lịch). Hiện, tôm sú loại 20 con/kg bán được giá 180-190 nghìn đồng/kg; tôm thẻ giá 110-120 nghìn đồng/kg; tôm bạc giá 50 nghìn đồng/kg. Với 4 ha rừng ngập mặn nuôi tôm, bình quân mỗi tháng bán tôm được 24 - 28 triệu đồng, sau khi trừ chi phí, còn lãi khoảng 15 triệu đồng. Ngoài con tôm, trung bình mỗi năm thu hoạch từ 150 - 200 kg cua bể, bán được cho thương lái với giá 200.000 đồng/kg, được thêm 40 triệu đồng.

“Nuôi tôm quảng canh, tuy không mất chi phí thức ăn, nhưng phải mua con giống bổ sung và phải thường xuyên thuê người và máy móc về nạo vét rạch. Bởi khi rạch cạn nước, không nuôi tôm được. Mỗi khi triều cường lên, áp lực nước mạnh nên bờ bị vỡ, phải đắp lại. Phải thuê máy múc đào đắp, chứ không thể đắp bằng tay được. Đất và rừng là của Nhà nước, nên mình không được phép chặt, chỉ được nuôi thủy sản làm sinh kế”, anh Đường chia sẻ.

Tương tự, anh Nguyễn Văn Miễn, 46 tuổi, ở ấp Xưởng Tiện, cũng được giao 4 ha đất rừng ngập mặn. Ngoài nuôi tôm cua, gia đình anh Miễn đang có đàn dê 16 con. Cách đây 3 năm, anh được dự án GCF hỗ trợ tiền mua 4 con dê. Từ những con dê đầu tiên này, anh nuôi cho sinh sản, dê con cứ nuôi đến khoảng 25 kg là xuất bán. Hàng ngày anh hái lá đước làm thức ăn cho dê, nên không mất chi phí thức ăn khi nuôi dê. “Trước kia không có sinh kế, tôi đi làm thuê, thu nhập rất bấp bênh. Từ khi được giao đất trồng rừng ngập mặn, gia đình đã có thu nhập ổn định từ tôm, cua bể, dê... bình quân mỗi tháng được hơn 20 triệu đồng”, anh Miễn tâm sự.

VnEconomy

Nhắc đến mô hình nuôi thủy sản sinh thái dưới tán rừng ngập mặn, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Viên An Đông, ông Lương Huỳnh Hảo hào hứng kể: “Toàn bộ diện tích của 14 ấp trên địa bàn xã đều đang nuôi tôm, cua sinh thái, trong đó có hơn 6.300 ha với 1.203 hộ đã được công nhận đạt tiêu chuẩn Naturland, ASC, Selva Shrimp của EU, Hà Lan. Hiện nay, toàn bộ diện tích này đã được Tập đoàn Minh Phú và Công ty Xuất nhập khẩu thủy sản Năm Căn ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm”. 

“Thách thức của tình trạng biến đổi khí hậu, mô hình nuôi tôm - cua kết hợp dưới tán rừng được xem là hướng đi bền vững cho nông dân. Đây là mô hình nuôi tự nhiên sinh thái không sử dụng thuốc và hóa chất, ít chi phí sản xuất, chất lượng tôm, cua luôn được đánh giá cao. Có thể con tôm sinh thái không vượt bậc về năng suất như các loại hình nuôi khác như tôm thâm canh và siêu thâm canh, nhưng tính ổn định rất cao. Các loại tôm thâm canh có thể khó tiêu thụ, nhưng tôm, cua sinh thái thu hoạch đến đâu đều được mua hết, do chất lượng ngon, lại không có kháng sinh hay bất cứ hóa chất nào”, ông Hảo cho hay.

Theo ông Hảo, ngoài lợi nhuận từ tôm, cua, các hộ dân còn được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng. Chỉ tính riêng dịch vụ chi trả môi trường rừng, hiện 1.203 hộ này hàng năm được nhận hơn 1,2 tỷ đồng. “Rừng sản xuất giao khoán của người dân hiện nay có thể không cần ban quản lý. Kể từ khi nuôi tôm sinh thái, tình trạng chặt phá cây rừng gần như không còn, thậm chí người dân còn trồng rừng nhiều hơn so với diện tích theo quy định. Hầu hết người dân ở đây đều trồng rừng đước, bởi vì đước là cây cho gỗ, trong khi các cây mắm, bần không thể bán gỗ. Quy định người dân trồng rừng đước phải đủ 12 năm thì mới được phép thu hoạch và phải trồng lại rừng mới. Với một chu kỳ khoảng 12 năm, 1 ha rừng có thể mang về cho người dân từ 150-200 triệu đồng. Đây là của để dành đáng kể”, ông Hảo tâm đắc nói.

Theo ông Phan Hoàng Vũ, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau, tỉnh có diện tích nuôi tôm lớn nhất cả nước với gần 280.000ha. Trong đó, có gần 40.000ha nuôi tôm cua sinh thái dưới tán rừng, hầu hết các trang trại tập trung ở huyện Ngọc Hiển với gần 23.000ha. Trong đó, có khoảng 20.000ha diện tích nuôi tôm được chứng nhận theo tiêu chuẩn quốc tế. Riêng huyện Ngọc Hiển đến nay có 4.500 hộ thực hiện mô hình nuôi tôm sinh thái, trong đó có 110 tổ hợp tác sản xuất với 1.413 hộ và 14 hợp tác xã.

VnEconomy

Ông Nguyễn Hữu Quyền, Phó Trưởng phòng Thanh tra pháp chế Chi cục Kiểm lâm Cà Mau, đồng thời là giám sát dự án GCF, cho biết Dự án GCF được triển khai từ năm 2017 đến năm 2024, với tổng ngân sách 41,9 triệu USD, trong đó tiền từ Quỹ Khí hậu xanh chiếm 29,5 triệu USD, Chính phủ Việt Nam đóng góp 10,8 triệu USD và nguồn từ Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) là 1,6 triệu USD. Kết quả cho đến nay, dự án đã hỗ trợ xây dựng được 4.966 ngôi nhà có khả năng chống chịu, trồng và phục hồi được gần 5.000 ha rừng ngập mặn tái sinh tại 7 tỉnh ven biển.

Theo ông Quyền, Cà Mau là tỉnh duy nhất trong cả nước có 3 mặt giáp biển, có chiều dài 254km, thường xuyên phải đối mặt với trượt lở đất và xâm nhập mặn. “Với diện tích 3.168ha trồng mới và trồng bổ sung phục hồi rừng do dự án GCF hỗ trợ dọc bờ biển của tỉnh đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao khả năng chắn sóng, bảo vệ đê biển. Diện tích rừng trồng bổ sung và phục hồi này do Ban quản lý rừng phòng hộ Đất Mũi phụ trách đã tạo ra một “bức tường xanh” bảo vệ bờ biển, Ngoài ra, dự án đã giúp người dân ở Cà Mau thực hiện mô hình nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng, với tổng diện tích nuôi 2.000ha”, ông Quyền nhấn mạnh.

Trong thời gian qua, dự án đã hỗ trợ 11 mô hình nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng ngập mặn cho 978 hộ dân đạt chứng nhận theo tiêu chuẩn quốc tế, cung cấp hàng xuất khẩu và mang lại thu nhập ổn định cho người nuôi. Giai đoạn 2023-2024, trong số hộ thực hiện mô hình nuôi trồng thủy sản dưới tán rừng, dự án đã chọn 500 hộ tại xã Nguyễn Huân, huyện Đầm Dơi tham gia hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản cho tôm sinh thái. Kết quả đã làm tăng giá trị kinh tế của hoạt động nuôi tôm, đồng thời bảo vệ tài nguyên rừng ngập mặn.

Nuôi trồng thủy sản dưới tán rừng là hình thức nuôi trồng gắn với bảo vệ rừng. Ngày nay, mô hình này còn được coi là giải pháp hấp thụ carbon, giảm phát thải khí nhà kính phù hợp với xu hướng phát triển xanh trên thế giới, mang lại thu nhập ổn định cho người dân địa phương. Theo tính toán, từ khối lượng sinh khối rừng phát triển thêm tại Cà Mau trong giai đoạn 2017-2024, đã giảm phát thải trên 1 triệu tấn khí carbon.

VnEconomy

VnEconomy 02/09/2024 09:00

 

Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 36-2024 phát hành ngày 02/09/2024. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam

VnEconomy

Nắm bắt nhu cầu nhà ở thực tế để giữ nhân lực chất lượng cao

Để làm rõ vấn đề này, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy giới thiệu ý kiến của đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp về thực trạng, triển vọng nhu cầu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam; những vướng mắc trong quá trình thực thi chính sách; đồng thời đề xuất giải pháp phát triển nguồn cung phù hợp, minh bạch hóa thông tin và tăng cường kết nối cung - cầu…

Không để doanh nghiệp Việt tự mò mẫm tìm đường vào chuỗi cung ứng điện tử của khối FDI

Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA), cho rằng rào cản lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam không chỉ là đáp ứng tiêu chuẩn của khối FDI, mà còn nằm ở mạng lưới cung ứng sẵn có của các tập đoàn này. Do đó cần có sự cởi mở hơn từ doanh nghiệp FDI và thay đổi cách tiếp cận trong hỗ trợ nhà cung ứng trong nước, qua đó thúc đẩy kết nối và phát triển chuỗi cung ứng tại Việt Nam.

Không nên xem nhà ở cho người nước ngoài là thị trường ngách

Trả lời phỏng vấn báo chí bên lề hội thảo “Nhà ở cho người nước ngoài sống và làm việc tại Thành phố Bắc Ninh” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy phối hợp với Ủy ban Nhân dân Thành phố Bắc Ninh tổ chức mới đây, ông Phạm Văn Thịnh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Bắc Ninh, cho biết cùng với quá trình thu hút đầu tư và mở rộng sản xuất, nhu cầu nhà ở của chuyên gia, nhà quản lý và người lao động nước ngoài tại địa phương ngày càng gia tăng.

Từ nguồn lực đến năng lực sáng tạo

Câu hỏi của chặng phát triển mới không còn dừng ở việc chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là có thể tổ chức, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực ấy đến đâu. Từ thể chế và môi trường kinh doanh đến sức sống của doanh nghiệp địa phương, từ niềm tin của người trở về quê đến cách ứng xử với di sản và căn tính miền Trung, những câu trả lời gặp nhau ở một điểm: phát triển phải để lại năng lực lớn hơn cho con người và vùng đất, để ngày mai có thể tự tạo ra những cơ hội mới.

Đón "đại bàng" có chọn lọc

Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.

Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy