Với nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, nếu hình thành được chuỗi liên kết từ khảo sát tài nguyên, ngân hàng gen và mẫu vật, nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, phát triển công nghệ, sở hữu trí tuệ, thử nghiệm đến sản xuất và thương mại hóa, tài nguyên sinh học biển có thể trở thành một hướng phát triển mới của kinh tế biển Việt Nam.
Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về định hướng tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Việt Nam có nguồn lợi hải sản phong phú với sản lượng khá ổn định. Đánh bắt và nuôi trồng hải sản là sinh kế thiết yếu, mang lại thu nhập ổn định cho hàng triệu người dân Việt Nam.
Từ năm 2014, với kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng trưởng qua các năm, Việt Nam đã khẳng định vững chắc vị thế là một trong 3 quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới về kim ngạch, chỉ sau Trung Quốc và Na Uy, đồng thời đứng thứ 4 về sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản. Thành quả này không chỉ đến từ năng lực sản xuất mà còn là kết quả của sự chuyển dịch chiến lược từ xuất khẩu thô sang chế biến sâu, giúp nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng trên từng đơn vị sản phẩm.
Biển Việt Nam còn có một “kho tài sản” với tiềm năng rất lớn, đó là tài nguyên sinh học biển, bao gồm: nguồn gen, vi sinh vật, vi tảo, rong biển, enzyme, peptide, protein, polysaccharide, sắc tố, các hợp chất tự nhiên và những cơ chế sinh học hình thành trong môi trường biển. Đây chính là nguyên liệu đầu vào cho những ngành có hàm lượng tri thức cao như: công nghệ sinh học, dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, vật liệu sinh học, enzyme công nghiệp, nông nghiệp sinh học và công nghệ môi trường.
Các nghiên cứu khoa học đã chỉ rõ: tài nguyên sinh học biển chỉ thực sự trở thành tài sản kinh tế khi được chuyển hóa thông qua nghiên cứu, sở hữu trí tuệ và thương mại hóa. Đây cũng là một bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển kinh tế biển. Vì thế, khoảng cách giữa “có tài nguyên” và “sở hữu giá trị” đang trở thành một trong những bài toán quan trọng nhất của kinh tế biển Việt Nam.
Công nghệ sinh học biển không chỉ là việc sử dụng rong biển hay các loài thủy sinh để tạo ra sản phẩm, mà còn bao gồm việc sử dụng sinh vật biển, vi sinh vật, vi tảo, rong biển, enzyme, gen, tế bào và các phân tử có nguồn gốc biển để tạo ra sản phẩm hoặc quy trình có giá trị. Phạm vi thương mại trải rộng từ thực phẩm chức năng, dược - mỹ phẩm, nguyên liệu lên men, thức ăn thủy sản, phân bón sinh học, chất keo sinh học, vật liệu sinh học đến xử lý môi trường.
Vì vậy, nếu chỉ xem biển như nguồn cung cấp sinh khối, Việt Nam khó có thể khai thác đầy đủ giá trị kinh tế của tài nguyên biển. Hướng tiếp cận cần chuyển từ khai thác khối lượng sang nâng cao giá trị trên mỗi đơn vị sinh khối thông qua công nghệ, dữ liệu và sở hữu trí tuệ.
Lợi thế cạnh tranh dài hạn không chỉ nằm ở quy mô nguồn nguyên liệu, mà còn ở khả năng làm chủ các công nghệ then chốt như enzyme, chiết xuất và tinh sạch, phát triển công thức (formulation), phân tích sinh học quy mô lớn, cùng hệ thống sở hữu trí tuệ gắn với sản phẩm và công nghệ.
Chuỗi giá trị vì thế có thể được hình dung theo nhiều cấp độ: ở mức cơ bản là khai thác và cung cấp sinh khối; cao hơn là sơ chế, phân đoạn và tạo nguyên liệu có giá trị gia tăng; tiếp theo là chiết xuất, tinh sạch và thu nhận các hợp chất có hoạt tính sinh học. Trên nền tảng đó, doanh nghiệp có thể phát triển công thức, sản phẩm và các ứng dụng chuyên biệt.
Ở cấp độ công nghệ cao hơn, việc phát hiện các phân tử, gen hoặc enzyme mới, xác lập quyền sở hữu trí tuệ và phát triển thành dược phẩm, vật liệu sinh học, sản phẩm chẩn đoán hoặc các công nghệ ứng dụng khác có thể tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn đáng kể.
Cách tiếp cận này cho thấy giá trị của tài nguyên sinh học biển không chỉ nằm ở lượng sinh khối có thể khai thác, mà còn ở mức độ tri thức, công nghệ và tài sản trí tuệ được tích hợp vào quá trình chuyển hóa nguồn tài nguyên đó thành sản phẩm.
Đầu vào của chuỗi giá trị có thể là da, xương cá, vỏ tôm, rong và tảo; trong khi đầu ra có thể trải rộng từ protein, polysaccharide, peptide, chitin, agar, carrageenan đến collagen peptide, oligochitosan, các loại chiết xuất được chuẩn hóa, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, mỹ phẩm, biostimulant, dược phẩm và vật liệu sinh học.
Cách tiếp cận này cho phép một nguồn nguyên liệu được phân tách, xử lý và phát triển thành nhiều nhóm sản phẩm với mức độ giá trị gia tăng khác nhau, thay vì chỉ tạo ra một sản phẩm đầu ra duy nhất. Đây là một trong những đặc điểm quan trọng của mô hình kinh tế biển dựa trên công nghệ sinh học: tối đa hóa giá trị thu được từ mỗi nguồn nguyên liệu thông qua đa dạng hóa sản phẩm và ứng dụng.
Một nghịch lý đang tồn tại trong kinh tế sinh học biển Việt Nam là: nguồn nguyên liệu không phải là điểm yếu lớn nhất, nhưng năng lực biến nguyên liệu thành sản phẩm có giá trị cao lại là khoảng trống lớn.
Tại Việt Nam đã xuất hiện những doanh nghiệp dẫn đầu, cùng một số nhóm sản phẩm được thương mại hóa. Tuy nhiên, hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ lõi vẫn còn mỏng; hoạt động R&D còn phân tán; năng lực phòng thí nghiệm ứng dụng và quy mô thử nghiệm hạn chế; trong khi tiêu chuẩn hóa các dòng sản phẩm cao cấp và nguồn nhân lực liên ngành vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Đây là một trong những điểm nghẽn quan trọng của quá trình thương mại hóa.
Ở cấp độ công nghệ, một giải pháp có hiệu quả về mặt kỹ thuật cũng chưa đồng nghĩa với khả năng tạo doanh thu. Để đi từ kết quả nghiên cứu đến thị trường, sản phẩm còn cần đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn, chứng nhận, khách hàng mục tiêu, kênh phân phối và năng lực tổ chức sản xuất, tiếp thị và thương mại hóa.
Nếu phụ phẩm thủy sản là cơ hội có thể triển khai tương đối nhanh, thì đa dạng sinh học biển và nguồn gen mở ra một không gian giá trị dài hạn hơn. Những hệ sinh thái ít được nghiên cứu, đặc biệt là các môi trường biển sâu, có thể chứa những vi sinh vật, gen, enzyme và hợp chất mà khoa học hiện nay chưa biết hoặc chưa khai thác đầy đủ. Nhưng đây là lĩnh vực mà tư duy “khai thác tài nguyên” cần được thay thế bằng tư duy “khám phá có trách nhiệm”.
Mỗi mẫu vật sinh học không chỉ là một nguồn nguyên liệu, mà còn là một phần của hệ sinh thái, một đơn vị dữ liệu khoa học và có thể là nền tảng của quyền sở hữu trí tuệ trong tương lai.
Do đó, hoạt động bioprospecting phải đi cùng khảo sát khoa học, đánh giá môi trường, lưu trữ mẫu, dữ liệu gen, truy xuất nguồn gốc và cơ chế chia sẻ lợi ích. Luật Đa dạng sinh học của Việt Nam đã đặt nền tảng cho việc quản lý nguồn gen, trong đó quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân quản lý nguồn gen, thủ tục tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích. Luật cũng quy định việc chia sẻ lợi ích từ kết quả nghiên cứu, sản xuất sản phẩm thương mại và quyền sở hữu trí tuệ đối với các kết quả sáng tạo trên cơ sở tiếp cận nguồn gen.
Một cách tiếp cận sai lầm là coi bảo tồn và phát triển như hai mục tiêu đối lập. Trong kinh tế sinh học biển, bảo tồn chính là cách bảo vệ “nguồn vốn” cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Một hệ sinh thái bị suy thoái có thể làm mất đi những gen, chủng vi sinh vật hoặc hợp chất chưa từng được nghiên cứu.
Do đó, bảo tồn đa dạng sinh học không chỉ nhằm duy trì cảnh quan hay chức năng sinh thái, mà còn duy trì quyền lựa chọn công nghệ của thế hệ hiện tại và tương lai.
Đây cũng là lý do Hiệp định về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển ở những vùng nằm ngoài quyền tài phán quốc gia (BBNJ) đặt ra yêu cầu bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển, đồng thời chia sẻ lợi ích, đánh giá tác động môi trường, xây dựng năng lực và chuyển giao công nghệ trong cùng một khuôn khổ. Đối với Việt Nam, nguyên tắc này cần được đưa vào toàn bộ chuỗi từ khảo sát, nghiên cứu đến thương mại hóa. Không thể xây dựng một ngành công nghệ sinh học biển mạnh nếu nguồn tài nguyên mà ngành đó dựa vào bị suy giảm.
Việt Nam có một số lợi thế đáng kể để phát triển công nghệ sinh học biển, trong đó có nguồn sinh khối tương đối lớn, vùng nguyên liệu đa dạng, ngành thủy sản đã hình thành với quy mô xuất khẩu lớn và bước đầu xuất hiện những doanh nghiệp có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Tuy nhiên, những hạn chế hiện nay tập trung nhiều hơn ở các khâu như: năng lực chuyển hóa nguồn nguyên liệu và kết quả nghiên cứu thành sản phẩm thương mại; quy mô thử nghiệm bán công nghiệp còn hạn chế; hệ thống phòng thí nghiệm ứng dụng dùng chung chưa phát triển tương xứng; nhiều sản phẩm chưa được chuẩn hóa theo các cấp chất lượng cao; hoạt động R&D còn phân tán; liên kết giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp chưa chặt chẽ. Bên cạnh đó là những hạn chế về nhân lực liên ngành và dữ liệu thống kê phục vụ đánh giá quy mô, năng lực và thị trường của ngành.
Do đó, có bốn nhóm vấn đề cần được đặc biệt lưu ý và khắc phục sớm là: sự phân tán của nguồn nguyên liệu, hạn chế về quy mô thử nghiệm, yêu cầu chuẩn hóa các hoạt chất và sản phẩm, khả năng tiếp cận nguồn vốn dài hạn. Đây cũng là những yếu tố có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm sang sản xuất và thị trường.
Vì vậy, thay vì chỉ gia tăng số lượng các đề tài nghiên cứu riêng lẻ, một hướng ưu tiên là củng cố hạ tầng và năng lực chuyển giao từ nghiên cứu đến sản phẩm, bao gồm cơ sở thử nghiệm, phòng thí nghiệm ứng dụng, tiêu chuẩn hóa, sở hữu trí tuệ, kiểm định chất lượng, kết nối doanh nghiệp và nguồn vốn cho giai đoạn thương mại hóa.
Trên cơ sở đó, có thể nghiên cứu xây dựng một Chương trình Marine Biotech quốc gia theo hướng tích hợp, với một số nhóm nhiệm vụ trọng tâm như sau:
Một là, xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ tài nguyên sinh học biển, bao gồm cả các nguồn nguyên liệu và phụ phẩm có tiềm năng khai thác.
Hai là, từng bước xây dựng Blue BioBank và hoàn thiện cơ chế tiếp cận nguồn gen, chia sẻ lợi ích và quản lý nguồn tài nguyên di truyền theo quy định.
Ba là, phát triển hạ tầng thử nghiệm pilot và các phòng thí nghiệm ứng dụng, kiểm nghiệm dùng chung nhằm hỗ trợ quá trình chuyển giao từ nghiên cứu sang sản xuất.
Bốn là, xây dựng các chương trình phát triển và thay thế nhập khẩu đối với những nhóm nguyên liệu chức năng có nhu cầu lớn và có khả năng sản xuất trong nước.
Năm là, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng tiêu chuẩn sản phẩm, hệ thống kiểm soát chất lượng, chứng nhận và bảo hộ sở hữu trí tuệ tại các thị trường mục tiêu.
Sáu là, nghiên cứu các cơ chế tài chính phù hợp cho những dự án công nghệ mới, đặc biệt là các dự án có thời gian thử nghiệm và hoàn vốn dài, trong đó có thể xem xét mô hình đầu tư công - tư hoặc các hình thức tài chính hỗn hợp.
Giai đoạn 2026-2028: nên tập trung vào thương mại hóa những sản phẩm đã có nguồn nguyên liệu, công nghệ và thị trường tương đối rõ; xây dựng bản đồ nguyên liệu; chuẩn hóa các thông số kỹ thuật của sản phẩm; thiết lập phòng thí nghiệm ứng dụng và kiểm định chất lượng; triển khai các dây chuyền sản xuất thử nghiệm hướng tới thương mại hóa.
Giai đoạn 2028-2031: có thể hình thành các cụm công nghiệp chế biến sinh học biển (Blue Biorefinery) gắn với vùng nguyên liệu; nâng cao tỷ lệ phụ phẩm được tái sử dụng, chuyển hóa thành sản phẩm có giá trị gia tăng và bắt đầu xuất khẩu nguyên liệu chức năng.
Giai đoạn 2031-2035: cần đẩy mạnh phát triển các sản phẩm từ vi tảo, peptide có hoạt tính sinh học (các chuỗi ngắn gồm nhiều axit amin, có thể tạo ra những tác dụng sinh học nhất định trong cơ thể) và vật liệu sinh học. Đồng thời, xây dựng trung tâm quốc gia về nghiên cứu, phát triển và sản xuất thử nghiệm; hình thành danh mục các sáng chế, công nghệ và tài sản trí tuệ có giá trị thương mại; nâng cao năng lực nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ và sản xuất sản phẩm theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, đối tác.
Giai đoạn 2035-2040: hướng tới phát triển dược phẩm có nguồn gốc từ sinh vật biển, cấp phép công nghệ, sáng chế, vật liệu y sinh và trở thành một hub đổi mới sáng tạo khu vực.
Đến 2045: mục tiêu lớn hơn không chỉ là có một số nhà máy công nghệ sinh học biển, mà còn là hình thành một hệ sinh thái kinh tế sinh học biển, trong đó Việt Nam có khả năng: phát hiện tài nguyên và nguồn gen; xây dựng dữ liệu sinh học; làm chủ công nghệ; sở hữu trí tuệ; phát triển sản phẩm; huy động vốn; sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế; xuất khẩu nguyên liệu và sản phẩm; cấp phép công nghệ; cung cấp dịch vụ nghiên cứu và phát triển (R&D), dịch vụ nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ và sản xuất theo hợp đồng (CDMO); tham gia các chuỗi giá trị sinh học biển toàn cầu. Đó mới là bước chuyển từ một quốc gia có tài nguyên biển sang một quốc gia có năng lực tạo giá trị từ tài nguyên biển.
Để công nghệ sinh học biển trở thành một ngành kinh tế thực sự, Việt Nam cần chuyển từ cách tiếp cận từng dự án sang cách tiếp cận hệ sinh thái.
Thứ nhất, cần xác lập công nghệ sinh học biển như một cấu phần chiến lược của kinh tế biển xanh và kinh tế sinh học quốc gia, kết nối với chiến lược khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, đa dạng sinh học và thủy sản.
Thứ hai, cần xây dựng bản đồ quốc gia về tài nguyên sinh học biển và phụ phẩm thủy sản. Không thể hoạch định công nghiệp nếu không biết chính xác nguồn nguyên liệu ở đâu, khối lượng bao nhiêu, tính mùa vụ thế nào, chất lượng ra sao và ai đang sở hữu.
Thứ ba, cần có Ngân hàng tài nguyên sinh học biển quốc gia (Blue BioBank), với hệ thống quản trị nguồn gen, mẫu vật, dữ liệu và quyền tiếp cận rõ ràng.
Thứ tư, cần ưu tiên đầu tư các cơ sở sản xuất thử nghiệm và phòng thí nghiệm ứng dụng thay vì chỉ tăng đầu tư cho nghiên cứu cơ bản.
Thứ năm, cần thiết kế cơ chế tài chính riêng cho công nghệ sinh học, kết hợp ngân sách nhà nước, quỹ đầu tư, doanh nghiệp, tổ chức tài chính phát triển (DFI), tài chính xanh và tài chính hỗn hợp.
Thứ sáu, cần xây dựng chương trình thay thế nhập khẩu có mục tiêu. Không nên đặt mục tiêu chung chung là “thay thế nhập khẩu”, mà xác định từng nhóm sản phẩm, phân hạng chất lượng, tiêu chuẩn, khách hàng và lộ trình.
Thứ bảy, cần thúc đẩy sở hữu trí tuệ ngay từ đầu. Mọi chương trình tìm kiếm, phát hiện và khai thác tiềm năng sinh học, nghiên cứu và phát triển, cũng như phát triển sản phẩm đều cần có chiến lược sở hữu trí tuệ đi kèm.
Thứ tám, cần phát triển năng lực cung cấp dịch vụ nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ và sản xuất theo hợp đồng, đồng thời mở rộng các mô hình sản xuất theo thiết kế của khách hàng (ODM) và sản xuất theo thiết kế, tiêu chuẩn hoặc thương hiệu của khách hàng (OEM) để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế.
Thứ chín, cần xây dựng một hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả hướng tới thương mại hóa bao gồm số lượng sáng chế được đăng ký và bảo hộ, số hợp đồng cấp phép công nghệ, doanh thu sản phẩm mới, số công nghệ được chuyển giao, giá trị nhập khẩu thay thế và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao.
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-42-2026.html




Sử dụng hệ thống pin tích hợp trong cánh, máy bay E9X của công ty khởi nghiệp Hà Lan Elysian Aircraft được thiết kế để chở 90 hành khách, với tầm bay ban đầu 800 km và mục tiêu đạt 1.000 km. Dự kiến đi vào khai thác năm 2034, mẫu máy bay này được kỳ vọng góp phần giảm đáng kể lượng phát thải của ngành hàng không…
Góp ý kiến vào dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật; đồng thời làm rõ một số nội dung để luật vừa tạo động lực phát triển kinh tế biển, vừa bảo vệ môi trường, chủ quyền và lợi ích quốc gia, hướng mục tiêu phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh...
Theo lộ trình, Việt Nam thực hiện mục tiêu cắt giảm 67,5% lượng tiêu thụ cơ sở HCFC trong giai đoạn 2025-2029, tiến tới giảm 97,5% từ năm 2030 và loại trừ hoàn toàn vào năm 2040. Từ thực tế lượng thiết bị đang sử dụng HCFC-22 hiện nay với nhu cầu môi chất lạnh cho sửa chữa, bảo dưỡng vẫn còn lớn trong khi nguồn mới bị hạn chế đặt ra bài toán thu hồi, tái chế, tái sử dụng, quản lý môi chất theo vòng đời. Tính toán cho thấy Việt Nam sẽ thiếu hụt khoảng 1.000 tấn HCFC-22 vào năm 2030…
Nhấn mạnh tinh thần xuyên suốt trong việc sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu rõ việc cắt thủ tục nhưng không cắt trách nhiệm; nới tiền kiểm nhưng phải siết hậu kiểm; phân cấp nhưng không phân tán; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Nếu giảm tiền kiểm nhưng năng lực hậu kiểm không đáp ứng yêu cầu thì sẽ khó bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường...
Việt Nam đang hoàn thiện khung pháp lý và đẩy mạnh các giải pháp quản lý môi chất lạnh theo Nghị định thư Montreal và Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, hướng tới thu hồi, tái chế xuyên suốt vòng đời thiết bị, góp phần bảo vệ tầng ozone và giảm phát thải khí nhà kính...
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.