Ngày 5/6/2026, Hiệp hội Mía đường Việt Nam có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ kiến nghị điều chỉnh một số cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn cho các dự án điện sinh khối từ các nhà máy đường.
Văn bản kiến nghị nêu rõ: Quy hoạch điện 8 đặt mục tiêu phát triển tối đa các nguồn năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời và điện sinh khối. Đến năm 2030, công suất điện sinh khối dự kiến đạt từ 1.523 MW đến 2.699 MW và có thể mở rộng hơn nếu đáp ứng các điều kiện về nguồn nguyên liệu, hiệu quả sử dụng đất, nhu cầu xử lý môi trường, hạ tầng lưới điện và giá điện hợp lý.
Hiệp hội Mía đường Việt Nam cho biết trong khi nhiều quốc gia coi điện sinh khối là một thành phần quan trọng trong hệ thống năng lượng phát thải thấp, thì lĩnh vực này ở Việt Nam vẫn gặp nhiều rào cản khiến các dự án khó phát huy hiệu quả.
Dẫn báo cáo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) về lộ trình hướng tới phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, Hiệp hội Mía đường Việt Nam nhấn mạnh: "Dù chỉ chiếm khoảng 5% tổng sản lượng điện toàn cầu, điện sinh khối có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hỗ trợ và ổn định hệ thống điện sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo không liên tục như điện gió và điện mặt trời".
Trong nhiều năm qua, tại Việt Nam, các nhà máy đường đã tận dụng bã mía - phụ phẩm của quá trình chế biến đường để phát điện. Đây được xem là một mô hình kinh tế tuần hoàn giúp gia tăng giá trị cho cây mía, đồng thời góp phần giảm phát thải và bảo vệ môi trường.
Theo số liệu của Viện Năng lượng năm 2020, các nhà máy đường chiếm tới hơn 95% tổng công suất điện sinh khối của cả nước. Trong tổng công suất điện sinh khối cả nước khoảng 522 MW, riêng các nhà máy đường đóng góp gần 500 MW, trong khi các nhà máy giấy và bột giấy chỉ chiếm hơn 22 MW.
Mặc dù giữ vai trò chủ lực, song các dự án điện sinh khối của ngành đường đang gặp nhiều khó khăn về cơ chế giá điện và chính sách phát triển.
Theo quy định hiện hành, giá mua điện đối với các dự án đồng phát nhiệt - điện từ bã mía là 1.634 đồng/kWh, tương đương khoảng 7,03 US cent/kWh. Đối với các dự án sinh khối không phải đồng phát nhiệt - điện, giá mua điện là 1.968 đồng/kWh, tương đương khoảng 8,47 US cent/kWh.
Hiệp hội cho rằng mức giá này thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực. Tại Thái Lan, giá điện sinh khối dao động từ 14 đến 17 US cent/kWh tùy quy mô nhà máy. Tại Philippines, mức giá khoảng 13 US cent/kWh. Như vậy, giá điện sinh khối đồng phát tại Việt Nam chỉ bằng khoảng một nửa so với Thái Lan và hơn một nửa so với Philippines.
Một trong những vấn đề lớn được Hiệp hội Mía đường Việt Nam chỉ ra là việc phân loại các dự án điện sinh khối thành hai nhóm: dự án đồng phát nhiệt - điện từ bã mía và các dự án điện sinh khối khác.
Việt Nam hiện là quốc gia hiếm hoi tách riêng điện đồng phát từ bã mía với các loại điện sinh khối khác. Trong khi đó, khoảng 80 quốc gia trồng mía trên thế giới đều công nhận điện từ bã mía là điện sinh khối và áp dụng các cơ chế hỗ trợ nhằm khuyến khích phát triển nguồn năng lượng này”.
Theo Hiệp hội Mía đường Việt Nam, cách phân loại này khiến các nhà máy đường chịu mức giá mua điện thấp hơn, làm giảm hiệu quả đầu tư. Khi nguồn thu từ điện không đủ hấp dẫn, doanh nghiệp khó nâng giá thu mua mía cho nông dân, từ đó ảnh hưởng tới diện tích vùng nguyên liệu và sản lượng điện tạo ra trong vụ ép.
Bên cạnh đó, các nhà máy điện sinh khối từ ngành đường không được vận hành linh hoạt ngoài mùa vụ sản xuất. Điều này khiến khoảng 10 nhà máy điện sinh khối của ngành đường phải ngừng hoạt động từ 7-8 tháng mỗi năm, dù hệ thống điện quốc gia vẫn có nhu cầu bổ sung nguồn điện.
Thực tế cho thấy, kể từ khi Quyết định 08/2020/QĐ-TTg được ban hành đến nay, không có thêm dự án điện sinh khối mới hoặc dự án đồng phát nhiệt - điện nào được đầu tư phát triển do hiệu quả tài chính chưa bảo đảm.
Hiệp hội Mía đường Việt Nam cũng cho rằng một số thủ tục và cơ chế thanh toán còn phức tạp, dẫn tới tình trạng nhiều doanh nghiệp chưa được thanh toán tiền điện đã phát lên lưới trong thời gian dài.
Ngoài những hạn chế của cơ chế giá FIT (Biểu giá điện hỗ trợ) hiện hành, Hiệp hội Mía đường Việt Nam còn chỉ ra một số bất cập phát sinh trong quá trình chuyển sang cơ chế đàm phán giá điện.
Theo đó, Thông tư số 09/2025 của Bộ Công Thương quy định về khung giá phát điện đã loại bỏ một số nội dung từng được quy định trong các quyết định của Thủ tướng Chính phủ như thời hạn hợp đồng mua bán điện 20 năm, cơ chế quy đổi tiền điện sang USD và trách nhiệm mua toàn bộ sản lượng điện sinh khối.
"Những thay đổi này có thể tạo ra sự thiếu thống nhất giữa các văn bản pháp luật và làm giảm tính hấp dẫn của các dự án điện sinh khối", Hiệp hội Mía đường Việt Nam nhấn mạnh; đồng thời cho biết Quyết định số 1008/QĐ-BCT năm 2025 quy định khung giá phát điện sinh khối tối đa là 2.091,74 đồng/kWh vẫn thấp và chưa bảo đảm tỷ suất lợi nhuận sau thuế 12% cho nhà đầu tư.
Từ những phân tích trên, Hiệp hội Mía đường Việt Nam kiến nghị Chính phủ xem xét một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển điện sinh khối.
Thứ nhất: Tiếp tục duy trì hiệu lực các cam kết trong các quyết định trước đây liên quan đến thời hạn hợp đồng mua bán điện 20 năm, cơ chế giá FIT, quy đổi sang USD và trách nhiệm mua toàn bộ sản lượng điện đối với các dự án đã triển khai trước khi Luật Điện lực năm 2024 có hiệu lực.
Thứ hai: Bãi bỏ quy định phân loại điện sinh khối thành hai nhóm như hiện nay và áp dụng một mức giá thống nhất tương đương 8,47 US cent/kWh cho tất cả các dự án điện sinh khối đã đầu tư trước thời điểm Luật Điện lực 2024 có hiệu lực.
Theo tính toán của Hiệp hội Mía đường Việt Nam, nếu đề xuất này được chấp thuận, sản lượng điện sinh khối từ các nhà máy đường có thể tăng ít nhất gấp đôi mà không cần đầu tư thêm công suất mới.
Đối với các dự án triển khai sau khi Luật Điện lực 2024 có hiệu lực, Hiệp hội Mía đường Việt Nam kiến nghị bỏ cơ chế giá trần, thay bằng khung giá tối thiểu tương đương 8,47 US cent/kWh và xác định mức giá tối đa theo nguyên tắc bảo đảm tỷ suất lợi nhuận sau thuế 12% cho nhà đầu tư.




Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.
Chuỗi sản xuất toàn cầu đang tái cấu trúc sâu sắc dưới tác động của chính sách thuế quan, AI và yêu cầu an toàn chuỗi cung ứng. Trước sự dịch chuyển cạnh tranh từ chi phí giá rẻ sang năng lực công nghệ của các nền kinh tế lớn, Việt Nam cần nâng chất dòng vốn FDI, hoàn thiện hệ sinh thái công nghiệp và phát triển lực lượng doanh nghiệp nội địa làm chủ các công đoạn giá trị cao...
Trước áp lực giá thế giới tăng vọt, trong kỳ điều hành ngày 30/7, giá xăng dầu trong nước biến động mạnh. Để kìm hãm đà tăng, liên Bộ Công Thương - Tài chính quyết định tiếp tục chi sử dụng Quỹ bình ổn từ 500 - 1.000 đồng/lít…
Nguồn nguyên liệu rừng trồng đang phân bổ chưa hợp lý, khi phần lớn gỗ được sử dụng cho sản xuất dăm gỗ và viên nén thay vì phục vụ chế biến sâu có giá trị gia tăng cao. Các doanh nghiệp cho rằng nếu không sớm tổ chức lại thị trường nguyên liệu, ngành gỗ Việt Nam sẽ khó nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững...
Hệ thống pháp luật về đê điều đang tiếp tục được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Các quy định mới tập trung phân cấp, đơn giản hóa thủ tục, tăng cường bảo vệ hành lang đê và nâng cao hiệu quả phòng, chống lũ, bảo đảm an toàn hệ thống đê điều...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.