Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) vừa cập nhật triển vọng thị trường chứng khoán trong đó dự báo VN-Index dao động trong vùng 1.638-1.999 điểm trong 6-8 tháng tới, tương đương biên độ từ -9% đến +11% so với mức đóng cửa ngày 13/7/2026.
Những kỳ vọng của VDSC dựa trên ba luận điểm chính: Thứ nhất, Chính phủ vẫn kiên định với mục tiêu tăng trưởng cả năm từ 10% trở lên (theo Nghị quyết 168/NQ-CP ngày 27/6). Tăng trưởng GDP thực tế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 8,18%, cao nhất kể từ năm 2000, trong đó quý 2 ghi nhận mức tăng 8,39%. Mục tiêu tăng trưởng trong 6 tháng cuối năm 2026 hướng tới 11,9%.
Để đạt được mục tiêu đầy thách thức này, cần tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng truyền thống gồm đầu tư công, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), xuất khẩu và tiêu dùng. Đây sẽ là những yếu tố lan tỏa tích cực đến lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết.
Thứ hai, lợi nhuận thị trường duy trì đà tăng trưởng. Ước tính EPS dự phóng năm 2026 của VN-Index bình quân đạt 146 đồng, tăng khoảng 20% so với cùng kỳ, hội tụ từ ba phương pháp ước tính độc lập: phương pháp từ trên xuống (top-down), danh mục phân tích của VDSC và phương pháp từ dưới lên (bottom-up) trên toàn thị trường.
Thứ ba, nâng hạng FTSE tạo chất xúc tác tích cực cho thị trường trong ngắn hạn.
Việc nâng hạng có hiệu lực từ ngày 21/9/2026 và được phân bổ theo các đợt đến tháng 9/2027, với dòng vốn thụ động ước tính trên 1,5 tỷ USD. Bên cạnh những tác động tích cực về dòng vốn và tâm lý đầu tư, việc nâng hạng còn có nhiều ý nghĩa đối với cả nền kinh tế và thị trường vốn Việt Nam trong trung và dài hạn. Xu hướng này sẽ tiếp tục được thúc đẩy mạnh mẽ khi nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế hiện tại rất lớn.
Trong góc nhìn trung và dài hạn, VDSC cho rằng nền tảng tăng trưởng lợi nhuận khả quan của các doanh nghiệp niêm yết đang là bệ đỡ vững chắc cho định giá thị trường.
Dù vậy, khả năng tái định giá thị trường lên các mức cao mới sẽ phụ thuộc vào: triển vọng hạ nhiệt của lãi suất và câu chuyện nâng hạng thị trường được hiện thực hóa bằng dòng vốn vào ròng của nhà đầu tư nước ngoài.
Cho đến khi cả hai nút thắt này được tháo gỡ, xu hướng chung của chỉ số được dự báo là dao động trong biên độ 1.606-1.979 điểm.
Về mặt định giá, VDSC điều chỉnh giảm vùng P/E mục tiêu của VN-Index trong 6-8 tháng tới xuống 11,7-13,7 lần, so với Báo cáo chiến lược gần nhất vào tháng 6/2026. Nguyên nhân chính là việc điều chỉnh tăng tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của nhà đầu tư trong nước trong bối cảnh lãi suất tiền gửi ngân hàng kỳ hạn 12 tháng vẫn duy trì ở mặt bằng cao.
Các yếu tố hỗ trợ gồm: tăng trưởng lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết gắn với tăng trưởng kinh tế vĩ mô; việc nâng hạng FTSE có hiệu lực từ ngày 21/9/2026, được xác nhận ngày 8/4/2026, với dòng vốn thụ động giải ngân theo các đợt đến tháng 9/2027, cùng những bước tiến tiếp theo về chính sách hướng tới nâng chuẩn nâng hạng lên MSCI; và chính sách tiền tệ và tài khóa được điều hành theo định hướng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Các rủi ro cần theo dõi gồm: Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất ở mức 3,50-3,75% cùng thông điệp “diều hâu”, trong khi biểu đồ chấm (dot plot) tháng 9/2026 nghiêng về khả năng tăng thêm, khiến chi phí vốn toàn cầu khó giảm nhanh;
Áp lực tỷ giá khi cán cân thương mại duy trì nhập siêu 16,65 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2026 và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng tăng 4,38%; và giá dầu biến động theo diễn biến căng thẳng tại Trung Đông, trong khi chính sách thương mại của Mỹ còn nhiều ẩn số.
VN-Index được dự báo dao động trong vùng 1.638-1.999 điểm trong 6-8 tháng tới, tương đương biên độ từ -9% đến +11% so với mức đóng cửa ngày 13/7/2026, trên cơ sở (1) EPS dự phóng bình quân có trọng số đạt 146 đồng và (2) P/E mục tiêu ở mức 11,7-13,7 lần.
Xét theo đóng góp, Ngân hàng tiếp tục là trụ cột lớn nhất của tăng trưởng lợi nhuận 2026 (đóng góp 15,9%), nhờ quy mô tín dụng tiếp tục mở rộng, đa dạng nguồn thu phí và kiểm soát chi phí tín dụng, tiếp theo là nhóm Thép và Thực phẩm chế biến.
Xét theo tốc độ, các nhóm gắn với chu kỳ nội địa dẫn đầu: Nhóm Cao su ghi nhận tăng trưởng đột biến nhờ bàn giao đất, Bất động sản dân cư (chu kỳ bàn giao trong 2H từ các dự án đã tháo gỡ pháp lý từ các năm trước ), thép – vật liệu xây dựng (tiếp tục hưởng lợi từ đầu tư công và phục hồi xây dựng), thực phẩm chế biến, phân phối hàng chuyên dụng (sức mua cải thiện và lấy thị phần từ kênh truyền thống) và Bất động sản khu công nghiệp.
Nhà đầu tư cá nhân mua ròng 1.565,1 tỷ đồng, trong đó mua ròng khớp lệnh 1.165,6 tỷ đồng.
Tính đến ngày 24/7/2026, đã có 500/1.523 doanh nghiệp và ngân hàng niêm yết, đại diện 26,7% vốn hóa toàn thị trường, công bố báo cáo tài chính hoặc ước tính sơ bộ kết quả kinh doanh quý 2/2026, với tổng lợi nhuận sau thuế tăng 19,7%...
Đà phục hồi ấn tượng hôm qua đã không thể được tiếp nối trong phiên cuối tuần khi dòng tiền một lần nữa “buông”. Thị trường được trao lại vào tay người bán, phù hợp với những ai muốn tranh thủ cắt lỗ nốt.
Trong bối cảnh lãi suất trong nước vẫn neo ở mức cao, dư địa để dòng vốn nội tiếp tục mở rộng đòn bẩy với tốc độ như giai đoạn 2024-2025 nhằm bù đắp cho các đợt bán ròng mới của khối ngoại sẽ khó mở rộng thêm nhiều. Đây là điểm cần tiếp tục theo dõi.
Việt Nam ghi điểm ở định giá đang ở mức hấp dẫn, tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp và dư địa sở hữu, nhưng thiếu hai yếu tố phân định sự hấp dẫn: động lực lợi nhuận gắn với AI và tiềm ẩn áp lực về tỷ giá.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.