“Báo cáo tình hình phát triển doanh nhân, doanh nghiệp và Hiệp hội doanh nghiệp của Việt Nam” do Viện Phát triển doanh nghiệp thuộc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) xây dựng đã phác hoạ toàn bộ quá trình phát triển doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam trong 10 năm qua.
Nhìn lại đầu những năm 1990, sau khi Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân được ban hành, cả nước chỉ có khoảng 5.000 doanh nghiệp tư nhân. Trong 10 năm tiếp theo, số doanh nghiệp tăng gần 56 lần, lên 279.360 doanh nghiệp (năm 2010).
Tính đến thời điểm 31/12/2022, số doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế là 895.876 doanh nghiệp, tăng hơn 3 lần (tương ứng với hơn 600 nghìn doanh nghiệp) sau 12 năm, bình quân tăng gần 10,20%/năm. Trong đó, số doanh nghiệp hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh đến hết năm 2021 là 718.697 doanh nghiệp, tăng hơn 2,5 lần (tương ứng với hơn 430 nghìn doanh nghiệp) so với năm 2010, bình quân tăng 8,97%/năm.
Tính lũy kế đến nay, cả nước đã có 1.881.891 doanh nghiệp đăng ký thành lập. Trong đó, tính riêng giai đoạn từ năm 2011 đến hết tháng 6/2023 (gần 13 năm) đã có 1.376.534 doanh nghiệp thành lập mới, chiếm gần 73,15% tổng số doanh nghiệp thành lập từ trước đến nay.
Báo cáo cũng cho thấy, giai đoạn 2011-2022, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới hàng năm tăng gần 1,92 lần, từ 77.548 doanh nghiệp lên 148.533 doanh nghiệp, bình quân tăng 6,09%/năm (thấp hơn so với mức tăng 18,20%/năm ở giai đoạn 2001-2010), mỗi năm có khoảng 108.388 doanh nghiệp được thành lập.
Cùng với sự tăng lên về số doanh nghiệp, số việc làm được tạo ra, vốn và doanh thu thuần trong các doanh nghiệp hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh cũng tăng lên theo thời gian. Cụ thể, đến hết năm 2021, các doanh nghiệp đã tạo ra việc làm cho gần 14,8 triệu lao động, tăng gần 1,52 lần so với năm 2010, tương ứng tăng hơn 5 triệu việc làm, bình quân tăng 3,87%/năm.
Bên cạnh sự lớn mạnh của doanh nghiệp, đội ngũ doanh nhân cũng không ngừng phát triển về số lượng và chất lượng. Việt Nam đã có một số doanh nhân lọt vào Top “tỷ phú USD” toàn cầu. Tới nay, Việt Nam đã có 124 doanh nghiệp, với 283 sản phẩm là thương hiệu quốc gia. Một số thương hiệu quốc gia đã gây được tiếng vang và khẳng định giá trị thương hiệu trên thị trường khu vực và thế giới, như Viettel, Vinamilk, VinFast, Thaco, TH True Milk, Phở Thìn, gạo ST25...
Các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam đã đóng góp khoảng 60% GDP, đóng góp ngày càng tăng vào ngân sách nhà nước. Năm 2021, đóng góp của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI chiếm gần 24,30% tổng thu trong nước, trong đó doanh nghiệp nhà nước là 10,45% và doanh nghiệp FDI chiếm 13,85% tổng thu trong nước.
Tuy nhiên, thực tế hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp vẫn đang gặp nhiều khó khăn. Theo kết quả khảo sát doanh nghiệp năm 2022, khó khăn lớn nhất mà các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đang gặp phải là tiếp cận tín dụng. Cụ thể, trong năm 2022 có khoảng 55,6% doanh nghiệp phản ánh khó tiếp cận tín dụng, tăng liên tục từ con số 34,8% của năm 2019, 40,7% của năm 2020 và 46,9% của năm 2021.
Tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận tín dụng có xu hướng giảm dần trong thời gian gần đây: Năm 2017, tỷ lệ doanh nghiệp có khoản vay từ các ngân hàng là 49,4%; năm 2018 và 2019, lần lượt là 45% và 43%; năm 2020, dù trong bối cảnh dịch Covid-19 bắt đầu xuất hiện, vẫn có 42,9% doanh nghiệp đang có khoản vay từ các ngân hàng; tuy nhiên, năm 2021 chỉ còn 35,4% doanh nghiệp; và năm 2022, tỷ lệ doanh nghiệp đang có khoản vay ngân hàng đã giảm đáng kể xuống con số 17,8%.
Trong năm 2022, một trong những chương trình hỗ trợ tín dụng quan trọng cho doanh nghiệp là gói hỗ trợ lãi suất 2% triển khai qua hệ thống ngân hàng thương mại, nhằm giúp các doanh nghiệp phục hồi sau đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, kết quả điều tra cho thấy, 29,5% doanh nghiệp có biết tới chương trình này, song chỉ khoảng 2% doanh nghiệp cho biết đã nhận được khoản vay và có tới 56,7% doanh nghiệp gặp khó khăn khi thực hiện thủ tục tiếp cận khoản vay.
Khó khăn lớn thứ hai của doanh nghiệp là việc tìm kiếm khách hàng, với tỷ lệ lựa chọn là 55,1%. Nếu năm 2019, tỷ lệ doanh nghiệp có khách hàng chính là doanh nghiệp FDI và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam lần lượt ở mức 17,2% và 9,6%, thì đến năm 2022, những con số này chỉ lần lượt ở mức 7,4% và 3,7%.
Các doanh nghiệp cũng phản ánh khó khăn liên quan tới việc thực hiện các thủ tục hành chính về thuế/phí (35%), đất đai/giải phóng mặt bằng (29%), bảo hiểm xã hội (20%), phòng cháy và xây dựng (13%). Có tới 71,7% doanh nghiệp đồng ý với nhận định “tình trạng nhũng nhiễu khi giải quyết các thủ tục cho doanh nghiệp là phổ biến”, cao đáng kể so với con số 57,4% của năm 2021.
Hơn nữa, môi trường pháp lý vẫn còn thiếu tính ổn định và khả năng tiên liệu dẫn đến rủi ro gia tăng cho các doanh nghiệp. Cụ thể, trong năm vừa qua, tỷ lệ doanh nghiệp không bao giờ hoặc hiếm khi dự đoán được sự thay đổi trong quy định pháp luật của Trung ương lên tới 70,8%, trước đó năm 2021 và 2020 lần lượt là 68,8% và 67,4%. Việc chính quyền địa phương thực thi chính sách, pháp luật của Trung ương cũng đang là vấn đề lớn với nhiều doanh nghiệp.
Để hỗ trợ phát triển đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp trong bối cảnh mới, VCCI cho rằng cần tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện môi trường, thể chế đầu tư. Trọng tâm là hệ thống chính sách, pháp luật tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng bảo vệ, khuyến khích doanh nghiệp, doanh nhân làm ăn chân chính, đổi mới sáng tạo...
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2023 phát hành ngày 16-10-2023. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam
Nội dung thảo luận tập trung vào cơ chế công khai danh mục Nhà nước độc quyền thương mại, kiểm soát giá - chất lượng hàng hóa, đồng thời rà soát kỹ việc bãi bỏ các quy định hợp đồng để tránh tạo khoảng trống pháp lý cho doanh nghiệp...
Trong 9 tháng đầu năm 2026, tổng doanh số trên Shopee, Lazada, TikTok Shop và Tiki đạt 441,97 nghìn tỷ đồng, tăng 44,47% so với cùng kỳ năm 2025. Sản lượng hàng hóa tiêu thụ đạt khoảng 3,28 tỷ sản phẩm, tăng 12,46%...
Hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng phải được đo bằng thiệt hại được giải quyết thực chất, không phải bằng số thủ tục hay số đầu mối đã được phân cấp…
Dự án GoRice được triển khai tại Cần Thơ, An Giang và Vĩnh Long giai đoạn 2025-2030, hướng tới hỗ trợ 48.200 người hưởng lợi trực tiếp, giảm khoảng 748.000 tấn phát thải carbon và thúc đẩy chuỗi giá trị lúa gạo bền vững, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long...
Biến động giá nhiên liệu đặt doanh nghiệp xăng dầu trước yêu cầu cân đối vốn nhập hàng, hàng tồn kho và lịch thanh toán. Sự kết nối giữa tín dụng và quản trị dòng tiền trở thành điểm tựa giúp doanh nghiệp chủ động duy trì nhịp kinh doanh.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.