Theo số liệu của Cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2026, cả nước có gần 111,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký đạt hơn 1.352,6 nghìn tỷ đồng, tăng vọt 64,8% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước.
Sự tăng trưởng vượt bậc này đẩy số vốn đăng ký bình quân của một doanh nghiệp mới đạt 12,1 tỷ đồng, tăng 34,5%. Nếu tính cả dòng vốn bổ sung, tổng số vốn đăng ký trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt gần 3,1 triệu tỷ đồng. Đây là nguồn lực quan trọng của nền kinh tế trong bối cảnh hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai chữ số trong năm 2026.
Với hơn 58,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, sự dịch chuyển dòng vốn cũng thể hiện rõ nét qua cơ cấu khu vực kinh tế khi khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 41,6% và khu vực công nghiệp, xây dựng tăng 37,2%.
Tuy nhiên, cùng với xu hướng gia nhập và tái gia nhập thị trường tăng cao, những khó khăn từ thị trường cũng đã khiến bình quân mỗi tháng có 25,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể lên tới gần 24,0 nghìn doanh nghiệp, tăng đột biến 94,7%, tập trung mạnh ở các lĩnh vực như kinh doanh bất động sản, xây dựng và bán buôn, bán lẻ.
Mặc dù áp lực rút lui lớn, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, lĩnh vực được ví như “động cơ vĩnh cửu” của nền kinh tế Việt Nam, lại phản ánh những tín hiệu phục hồi rõ rệt.
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh quý 2/2026 của Cục Thống kê cho thấy trạng thái ổn định và tăng trưởng chiếm thế chủ đạo với 36,3% số doanh nghiệp đánh giá tình hình tốt hơn và 43,4% giữ mức ổn định so với quý 1/2026. Bước sang quý 3/2026, tâm lý lạc quan tiếp tục lan tỏa khi có tới 39,4% doanh nghiệp dự báo xu hướng sẽ tốt lên và 44,0% dự báo ổn định.
Các chỉ số về khối lượng sản xuất và đơn đặt hàng mới dự kiến đều có sự cải thiện mạnh mẽ. Trạng thái phục hồi niềm tin này cũng được củng cố rõ nét qua Nghiên cứu Triển vọng doanh nghiệp năm 2026 của UOB, khi ghi nhận đến 85% doanh nghiệp Việt Nam có tâm lý kinh doanh tích cực, tăng vọt so với mức 48% của năm 2025, thời điểm niềm tin chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến động thuế quan từ Hoa Kỳ.
“Các doanh nghiệp Việt Nam đang cho thấy khả năng thích ứng và sức bền rất ấn tượng trong một môi trường toàn cầu ngày càng nhiều biến động. Đặc biệt, các doanh nghiệp đang hướng tới sự chuyển đổi mạnh mẽ khi đẩy mạnh đầu tư vào năng lực số, củng cố chuỗi cung ứng và mở rộng ra khu vực ASEAN để nắm bắt cơ hội tăng trưởng dài hạn”, bà Phạm Như Anh, Giám đốc Khối Ngân hàng bán buôn, Ngân hàng UOB Việt Nam, nhận định.
Theo đó, để duy trì đà phục hồi này trong bối cảnh thách thức gia tăng chi phí vận hành (chiếm 37%) và biến động giá hàng hóa (chiếm 30%), cộng đồng doanh nghiệp quy mô vừa và lớn đang tập trung nguồn lực vào hai mũi nhọn công nghệ và năng lượng.
Theo UOB, hiện nay, 92% doanh nghiệp Việt Nam đã áp dụng kỹ thuật số với 70% tuyên bố đạt được thành công lớn trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh và năng suất. Đặc biệt, trí tuệ nhân tạo (AI) đang chuyển dịch mạnh mẽ từ khái niệm sang thực tiễn với 81% doanh nghiệp đã bắt đầu triển khai.
Nhóm doanh nghiệp số hóa toàn diện đang chiếm ưu thế tiên phong trong việc ứng dụng AI nâng cao, mang lại hiệu quả rõ rệt về tăng năng suất (49%), tiết giảm chi phí (47%) và thúc đẩy tăng trưởng doanh thu (46%).
Song song với số hóa, quản lý năng lượng đã trở thành một ưu tiên chiến lược hàng đầu khi có đến 96% doanh nghiệp tại Việt Nam coi trọng việc sử dụng năng lượng hiệu quả, cao hơn đáng kể so với mức trung bình 87% của khu vực ASEAN. Trước nguy cơ gián đoạn nguồn cung toàn cầu, 55% doanh nghiệp ưu tiên đảm bảo nguồn cung năng lượng ổn định, bền vững và 53% tập trung tối ưu hóa năng lượng thông qua các công cụ số bằng việc đầu tư vào máy móc hiệu suất cao hoặc pin năng lượng mặt trời.
Bên cạnh công nghệ và năng lượng, quản trị chuỗi cung ứng được 97% doanh nghiệp xác định là yếu tố mang tầm quan trọng chiến lược để thích ứng với các rủi ro địa chính trị và sự mơ hồ về nguồn gốc xuất xứ hàng hóa (ảnh hưởng đến 88% doanh nghiệp). Nhằm tăng cường khả năng chống chịu, các doanh nghiệp Việt Nam đang thực hiện chiến lược đa dạng hóa sâu sắc khi có tới 4 trong 5 doanh nghiệp dự kiến mở rộng mạng lưới nhà cung cấp trong năm 2026.
Xu hướng dịch chuyển hoạt động sản xuất về các thị trường gần hơn (nearshoring) cũng gia tăng mạnh mẽ với hơn một nửa số doanh nghiệp hướng tới việc gia tăng số lượng nhà cung cấp trong khu vực ASEAN (52%), trong khi nhiều doanh nghiệp cũng cân nhắc mở rộng trực tiếp cơ sở sản xuất sang các nước thuộc khối này (43%).
Sự chuyển dịch chuỗi cung ứng nội khối này đang thúc đẩy một làn sóng mở rộng ra thị trường quốc tế vô cùng mạnh mẽ. Nếu như năm 2025 ghi nhận 70% doanh nghiệp Việt Nam mở rộng hoạt động ra nước ngoài, thì có tới 90% doanh nghiệp đã lên kế hoạch tiếp tục vươn ra quốc tế trong ba năm tới.
Đồng thời, 80% doanh nghiệp dự định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (FDI) trong vòng hai năm tới với quy mô vốn trung bình dự kiến vượt mức 28 triệu USD. Động lực chính cho dòng vốn này là khát vọng tăng doanh thu, tiếp cận cơ hội mới và tận dụng chiến lược “Trung Quốc + 1” để giảm thiểu rủi ro chuỗi cung ứng.
Trong bản đồ toàn cầu hóa đó, ASEAN tiếp tục là điểm đến chiến lược hàng đầu khi được 65% doanh nghiệp Việt Nam ưu tiên lựa chọn, đặc biệt là các thị trường Thái Lan, Singapore và Indonesia.
Dù phải đối mặt với không ít thách thức về việc đáp ứng yêu cầu pháp lý hay tìm kiếm đối tác địa phương phù hợp, sự đồng hành của hệ thống hạ tầng tài chính vững chắc – thông qua các giải pháp quản lý tài chính chuỗi cung ứng số hóa xuyên biên giới và mạng lưới tư vấn quốc tế – sẽ là bệ đỡ quan trọng, giúp doanh nghiệp Việt Nam vững vàng vượt qua biến động và khai mở thành công các cơ hội tăng trưởng dài hạn trong khu vực.
Nhìn lại toàn cảnh 6 tháng đầu năm và triển vọng tương lai, theo bà Phí Thị Hương Nga, Trưởng Ban Thống kê công nghiệp và xây dựng, Cục Thống kê, cho rằng doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước một chu kỳ phát triển mới, chu kỳ của chất lượng vốn, công nghệ và tư duy toàn cầu. Để biến các triển vọng lạc quan thành kết quả thực tế, cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động thực thi các nhóm giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, tối ưu cấu trúc chi phí bằng công nghệ. Doanh nghiệp cần quyết liệt số hóa sâu rộng, ứng dụng AI vào các quy trình lặp đi lặp lại để giải phóng nguồn lực, nâng cao năng suất và giải quyết bài toán sụt giảm lao động đăng ký mới.
Thứ hai, định hình tư duy “chuỗi cung ứng động”, không phụ thuộc vào một nhà cung cấp duy nhất. Tích cực đa dạng hóa nguồn cung, tận dụng lợi thế logistics nội khối ASEAN và chuẩn bị sẵn sàng các hồ sơ minh bạch hóa xuất xứ để vượt qua các rào cản phòng vệ thương mại quốc tế.
Thứ ba, chuyển đổi xanh chủ động. Xem năng lượng tái tạo và thực hành ESG hiệu quả là tấm hộ chiếu bắt buộc để gia nhập chuỗi cung ứng toàn cầu, thay vì coi đó là một khoản chi phí gia tăng.
“Sự sàng lọc khắt khe của thị trường trong nửa đầu năm 2026 chính là bước đệm cần thiết để loại bỏ những mô hình kinh doanh lỗi thời, nhường chỗ cho thế hệ doanh nghiệp mới thông minh hơn, bền vững hơn, sẵn sàng khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ kinh tế khu vực và thế giới”, bà Nga nhấn mạnh.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 27-2026 phát hành ngày 29/06/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-27-2026.htm
Trụ sở làm việc mới của Tỉnh ủy, Đoàn Đại biểu Quốc hội, Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa là công trình trụ sở cấp tỉnh đầu tiên tại Việt Nam đạt chứng nhận công trình xanh quốc tế EDGE Advanced...
Sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động vận tải tiếp tục duy trì đà tăng trưởng hai con số ở cả lĩnh vực hành khách và hàng hóa, phản ánh nhu cầu đi lại, sản xuất và lưu thông hàng hóa của nền kinh tế tiếp tục mở rộng. Tuy nhiên, cơ cấu vận tải chưa ghi nhận nhiều thay đổi khi đường bộ vẫn đảm nhận phần lớn dòng chảy vận tải của cả nước. ..
Thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong nửa đầu năm 2026 ghi nhận con số tăng trưởng tích cực trong bối cảnh biến động phức tạp của tình hình địa chính trị toàn cầu và sự tái định vị của chuỗi cung ứng quốc tế. Với định hướng chính sách rõ ràng, Việt Nam tiếp tục khẳng định là điểm đến an toàn của nhà đầu tư nước ngoài.
Thông tin từ Bộ Tài chính cho thấy, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI sáu tháng đạt 13,03 tỷ USD, đạt mức cao nhất sáu tháng đầu năm của các năm từ 2022 đến nay. Có ba yếu tố tích cực khiến nguồn vốn FDI tăng mạnh…
Tại Hội nghị lần thứ 4, Tỉnh ủy Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2025 - 2030 vừa diễn ra, các đại biểu đã xem xét, thông qua chủ trương đầu tư Dự án đường ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh (giai đoạn 3) với tổng mức đầu tư 6.000 tỷ đồng.
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Thông tin từ Bộ Tài chính cho thấy, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI sáu tháng đạt 13,03 tỷ USD, đạt mức cao nhất sáu tháng đầu năm của các năm từ 2022 đến nay. Có ba yếu tố tích cực khiến nguồn vốn FDI tăng mạnh…