Trong 15 nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu vào thị trường Singapore, Malaysia tiếp tục là nước dẫn đầu, tiếp theo là Na Uy ở vị trí thứ 2, Indonesia xếp hạng thứ 3, Trung Quốc xếp thứ 4 và Việt Nam thứ 5.
Theo Thương vụ Việt Nam tại Singapore, kim ngạch xuất khẩu của thủy sản Việt Nam vào thị trường Singapore trong 6 tháng đầu năm 2024 tăng 0,81%, giá trị xuất khẩu đạt gần 51,7 triệu SGD, chiếm thị phần 9,46%.
Trong đó, nhóm hàng tăng mạnh là cá tươi (tăng 25,42%). 3 nhóm hàng sụt giảm mạnh là nhóm cá tươi ướp lạnh (giảm 26,93%), nhóm cá đông lạnh (giảm 39,42%), nhóm thủy sản thủy sinh (giảm 23,08%).
Số liệu thống kê của Cơ quan quản lý Doanh nghiệp Singapore 6 tháng đầu năm 2024 cho thấy, Singapore đã nhập khẩu thủy sản từ gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng kim ngạch nhập khẩu khoảng 546,14 triệu SGD, giảm 3,42% so với cùng kỳ năm 2023.
Nhóm sản phẩm thủy sản chiếm tỷ trọng lớn tại thị trường Singapore gồm: tôm, cua, thủy sản giáp xác, chiếm 24,42% tổng lượng tiêu thụ của thị trường; tiếp đến là cá tươi, ướp lạnh, chiếm 19,65%; phi lê cá, thịt cá ướp lạnh hoặc đông lạnh, chiếm 18,15%; cá đông lạnh chiếm 15,75%; thủy sản thân mềm chiếm 10,67%... Các nhóm mặt hàng như cá tươi, cá chế biến và thủy sản thủy sinh chiếm tỷ trọng tương đối thấp, lần lượt là 3,74%; 4,8% và 2,81%.
6 quốc gia có thị phần lớn nhất chiếm từ 9% - 13% là Malaysia (13,55%), Na Uy (11,34%), Indonesia (11,06%), Trung Quốc (10,24%), Việt Nam (9,46%) và Nhật Bản (8,30%).
Đánh giá thế mạnh thuỷ sản từng nước tại thị trường Singapore, Thương vụ Việt Nam tại Singapore cho rằng Malaysia có thế mạnh về các mặt hàng cá tươi sống và tôm, cua, thủy sản giáp xác. Na Uy và Tây Ban Nha có thế mạnh về sản phẩm cá tươi ướp lạnh và cá đông lạnh.
Việt Nam chiếm lĩnh thị trường thủy sản Singapore bằng các sản phẩm cá phi lê đông lạnh với (chiếm 28,69%) và cá chế biến (chiếm 19,24%). Trung Quốc có lợi thế đối với các sản phẩm thủy sản thân mềm. Nhật Bản có lợi thế về các loại thủy sản thủy sinh.
Thị phần còn lại chia đều cho hơn 90 đối tác khác, trong đó có Chi lê, Ấn Độ, Úc, Thái Lan, Mỹ…
Singapore là thị trường tiềm năng cho các sản phẩm thuỷ sản có thế mạnh của Việt Nam, tuy nhiên, thách thức với các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản không nhỏ.
Cụ thể, để đảm bảo an ninh thực phẩm, Singapore thực hiện chính sách đa dạng nguồn cung, liên tục tìm kiếm, mở rộng thị trường nhập khẩu bằng nhiều chính sách khác nhau. Điều này khiến cho sự cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu thủy sản vào Singapore ngày càng lớn.
Mặt khác, tình trạng lạm phát đang cao cũng là một thách thức không nhỏ cho ngành thủy sản các nước xuất khẩu vào Singapore, trong đó có Việt Nam.
Bên cạnh đó, xung đột ở một số khu vực trên thế giới cũng làm cho giá cước vận chuyển tăng mạnh. Quốc gia nào tận dụng được lợi thế về logistics cũng như giảm thiểu được các chi phí sẽ tạo được lợi thế cạnh tranh lớn hơn trong xuất khẩu hàng hóa.
Để có thể tăng thị phần bền vững, nâng cao thứ hạng cũng như giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Singapore, ông Cao Xuân Thắng, Tham tán thương mại Việt Nam tại Singapore, cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam cần tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng các mặt hàng thủy sản.
Cùng với sự nỗ lực của doanh nghiệp, ông Thắng cho biết Thương vụ tiếp tục tích cực thực hiện kết nối với các doanh nghiệp thủy hải sản của Việt Nam để thông tin tới doanh nghiệp trong nước tình hình, cơ chế, chính sách của địa bàn, những mặt hàng mà các nhà nhập khẩu Singapore đang tìm kiếm.
Đồng thời, kết nối Hiệp hội các ngành công nghiệp thủy sản của Singapore với các doanh nghiệp Việt Nam. Hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia các hội chợ triển lãm, trưng bày hàng hóa, quảng bá thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệu sản phẩm, tăng sự hiện diện của hàng hóa Việt Nam tại địa bàn.
Hỗ trợ các đoàn doanh nghiệp Singapore vào Việt Nam tìm kiếm nguồn hàng, xúc tiến đầu tư công nghiệp, thương mại và dịch vụ vào Việt Nam.
Thương vụ cũng liên tục có các hoạt động đối thoại với các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có sự tham gia của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản để chia sẻ các kinh nghiệm tiếp cận thị trường và khuyến nghị nâng cao chất lượng sản phẩm, cải thiện mẫu mã hàng hóa để giữ uy tín của thủy sản Việt Nam đối với thị trường Singapore.
Tăng trưởng GDP 9 tháng năm 2026 đạt 9,01%, nhưng áp lực lạm phát, chi phí vốn và nguồn lực đầu vào đang đặt doanh nghiệp trước yêu cầu tái cấu trúc. Theo TS Đỗ Thiên Anh Tuấn, giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, doanh nghiệp cần mạnh dạn loại bỏ những hoạt động kém hiệu quả, củng cố tài chính và tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực cốt lõi, thay vì tiếp tục mở rộng quy mô bằng mọi giá...
Phân tích về bài toán an ninh năng lượng quốc gia, Đại sứ Vũ Quang Minh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nhấn mạnh tầm quan trọng của ngoại giao kinh tế, lợi thế chiến lược "friend-shoring" và việc hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm thu hút đầu tư quốc tế, tạo động lực vững chắc cho sự phát triển bền vững của ngành dầu khí Việt Nam...
Duy trì sản lượng khai thác trong nước, đẩy mạnh tìm kiếm dầu khí ở nước ngoài, phát triển chuỗi khí - điện, LNG và các nguồn năng lượng mới là những định hướng chiến lược Petrovietnam xác định nhằm bảo đảm tăng trưởng, an ninh năng lượng và thực hiện mục tiêu giảm phát thải...
Giá các mặt hàng xăng dầu trong nước đồng loạt tăng theo đà thế giới. Nguyên nhân chủ yếu do những bất ổn địa chính trị tại Trung Đông, xung đột Nga - Ukraine tiếp diễn cùng tồn kho dầu thô Mỹ giảm khiến giá nhiên liệu toàn cầu biến động...
Việt Nam giữ vị trí hàng đầu thế giới về chế biến và xuất khẩu nhân điều, nhưng lợi thế về quy mô chưa đồng nghĩa với khả năng giữ lại giá trị tương xứng. Bài toán được đặt ra không chỉ là bảo đảm nguồn nguyên liệu, mà còn phải thay đổi cách tạo giá trị, từ công nghệ chế biến đến thị trường tiêu thụ...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.