double-skinned crabsVietnamese crab exporter

Xây dựng tiêu chuẩn cho tín chỉ carbon rừng

Việt Nam đang xây dựng hành lang pháp lý cho thị trường carbon, trong đó tín chỉ carbon rừng sẽ giữ vai trò then chốt. Bộ Tiêu chuẩn cho tín chỉ carbon rừng đang được xây dựng, sẽ không chỉ là một công cụ kỹ thuật trong giảm phát thải khí nhà kính, mà còn là đòn bẩy chính sách quan trọng giúp Việt Nam tiến gần hơn đến mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (NetZero) vào năm 2050...

Việt Nam hiện đang hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường carbon trong nước.
Việt Nam hiện đang hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường carbon trong nước.

Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) vừa ra thông báo lấy ý kiến đóng góp cho Dự thảo Tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia “Tín chỉ carbon rừng– Yêu cầu chung”.

Theo đó, thực hiện nhiệm vụ do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) giao tại Quyết định số 2077/QĐ-BNN-KHCN ngày 26/8/2024, Văn phòng Chứng chỉ rừng Việt Nam đã xây dựng dự thảo tiêu chuẩn trên. 

KHUNG TIÊU CHUẨN, TIÊU CHÍ VÀ YÊU CẦU KỸ THUẬT CẤP TÍN CHỈ CARBON RỪNG

Tín chỉ carbon rừng là chứng nhận có thể giao dịch thương mại, thể hiện quyền phát thải một tấn khí CO₂ hoặc lượng khí tương đương (CO₂e).

Tín chỉ này được tạo ra từ các dự án carbon trong lĩnh vực lâm nghiệp và sử dụng đất, bao gồm: REDD+ (Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng, bảo tồn và nâng cao trữ lượng carbon rừng); A/R (Trồng rừng mới hoặc xúc tiến tái sinh tự nhiên; IFM-N (Cải thiện rừng tự nhiên nghèo, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh); IFM-P (Cải thiện rừng trồng, nâng cao năng suất, kéo dài chu kỳ khai thác); AFP (Canh tác nông lâm kết hợp, trồng cây thân gỗ phân tán).

Những dự án này không chỉ góp phần giảm phát thải khí nhà kính mà còn giúp bảo vệ đa dạng sinh học, phát triển sinh kế cộng đồng và bảo vệ môi trường. Đây là cách tiếp cận hài hòa giữa lợi ích kinh tế và phát triển bền vững.

Phát triển thị trường carbon rừng không chỉ mang lại lợi ích kinh tế thông qua mua bán tín chỉ mà còn tạo động lực cho quản lý rừng bền vững, gắn bảo tồn thiên nhiên với sinh kế người dân.
Phát triển thị trường carbon rừng không chỉ mang lại lợi ích kinh tế thông qua mua bán tín chỉ mà còn tạo động lực cho quản lý rừng bền vững, gắn bảo tồn thiên nhiên với sinh kế người dân.

Theo dự thảo tiêu chuẩn mới, tín chỉ carbon rừng sẽ được cấp dựa trên các tiêu chí rõ ràng liên quan đến điều kiện, phương pháp đo đạc, thẩm định và xác minh.

Các yêu cầu cụ thể bao gồm: đảm bảo tính bổ sung (nghĩa là lượng giảm phát thải chỉ có thể đạt được thông qua các dự án này); tránh tình trạng trùng lặp với các dự án khác; các dự án phải có hồ sơ pháp lý minh bạch về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch sử dụng rừng; đồng thời, tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển rừng bền vững.

VnEconomy

Việc đo đạc và báo cáo lượng phát thải, hấp thụ carbon phải dựa trên phương pháp luận của IPCC (Uỷ ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu) và tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14287:2024, kết hợp dữ liệu điều tra rừng, bản đồ lớp phủ, số liệu thay đổi sử dụng đất. Kế hoạch giám sát được xây dựng chi tiết, báo cáo định kỳ ít nhất hai năm một lần và công bố công khai trên website của chủ dự án để đảm bảo minh bạch.

Dự thảo cũng đã nêu cụ thể, chi tiết yêu cầu cho từng loại dự án. Theo đó, với dự án REDD+: Áp dụng tại rừng tự nhiên vùng đồi núi hoặc rừng ven biển, có giai đoạn tham chiếu trong quá khứ từ 5–10 năm. Giai đoạn tín chỉ tối thiểu 5 năm, có thể gia hạn tối đa hai lần. Ưu tiên dự án cấp vùng, liên tỉnh, có đồng lợi ích về kinh tế, xã hội và đa dạng sinh học.

Dự án A/R (trồng rừng mới): Đất thực hiện dự án không có rừng ít nhất 3 năm trước khi bắt đầu. Giai đoạn tín chỉ tối thiểu 10 năm và có thể gia hạn tối đa hai lần. Ưu tiên trồng cây bản địa, hỗn loài, cây lâm nghiệp có chu kỳ dài để tăng khả năng hấp thụ CO₂ bền vững.

Dự án IFM-N (khoanh nuôi xúc tiến tái sinh): Thực hiện trên rừng tự nhiên nghèo kiệt. Giai đoạn tín chỉ tối thiểu 10 năm, có thể gia hạn 2 lần, đồng thời tuân thủ quy định về khoanh nuôi tái sinh tự nhiên và trồng bổ sung.

Dự án IFM-P (trồng lại rừng sau khai thác): Áp dụng với rừng trồng sản xuất hiện có hoặc đất rừng sản xuất sau khai thác. Cần có phương án quản lý rừng bền vững được phê duyệt và chứng chỉ rừng bền vững. Giai đoạn tín chỉ tối thiểu 8 năm, có thể gia hạn 2 lần.

Dự án AFP (canh tác nông lâm kết hợp): Triển khai trên đất lâm nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp hoặc nương rẫy vùng đồi núi. Giai đoạn tín chỉ tối thiểu 10 năm và có thể gia hạn tối đa hai lần. Dự án phải tuân thủ quy định về trồng cây phân tán, bảo vệ môi trường và phát triển sinh kế bền vững cho người dân địa phương.

GIÁM SÁT, THẨM ĐỊNH VÀ XÁC MINH

Một yếu tố quan trọng đảm bảo hiệu quả và độ tin cậy của tín chỉ carbon là quy trình giám sát và xác minh độc lập. Tổ chức thực hiện thẩm định – xác minh (VVB) phải có chứng nhận năng lực theo TCVN ISO 14065, được đăng ký hoạt động hợp pháp trong lĩnh vực đánh giá sự phù hợp.

Hồ sơ dự án tín chỉ carbon  bao gồm: Tài liệu thiết kế dự án; Báo cáo giám sát định kỳ; Dữ liệu đo đạc, bản đồ và bảng tính phát thải, hấp thụ carbon; Các minh chứng pháp lý liên quan. Tất cả hồ sơ này phải được lưu trữ số hóa, công khai và có thể kiểm chứng, bảo đảm tính minh bạch trong quá trình xác nhận lượng tín chỉ được phát hành.

VnEconomy

Phát triển thị trường carbon rừng không chỉ mang lại lợi ích kinh tế thông qua mua bán tín chỉ mà còn tạo động lực cho quản lý rừng bền vững, gắn bảo tồn thiên nhiên với sinh kế người dân. Khi được triển khai hiệu quả, đây sẽ là nguồn tài chính xanh hỗ trợ các địa phương bảo vệ rừng, đồng thời đóng góp trực tiếp vào chiến lược quốc gia về giảm phát thải.

Theo Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, việc triển khai các dự án carbon rừng tại Việt Nam vẫn đối mặt nhiều thách thức. Trước hết là yêu cầu đảm bảo tính bổ sung thực sự và không trùng lặp với các chương trình khác. Việc đo đạc, báo cáo, kiểm chứng (MRV) cũng đòi hỏi năng lực kỹ thuật cao, hệ thống dữ liệu đồng bộ và nhân lực chuyên môn.

Ngoài ra, các dự án còn chịu rủi ro rò rỉ và đảo nghịch phát thải, do thiên tai, cháy rừng hoặc dịch bệnh. Để giảm thiểu, các dự án cần lập kế hoạch ứng phó rủi ro và trích lập lượng dự phòng (buffer) – tức một phần tín chỉ được giữ lại, không đưa ra giao dịch, nhằm bù đắp cho các biến động khó lường.

Việt Nam hiện đang hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường carbon trong nước, hướng đến kết nối với thị trường khu vực và toàn cầu. Trong tương lai, cùng với sự phát triển của công nghệ số và các hệ thống giám sát từ xa, thị trường tín chỉ carbon rừng được kỳ vọng mở rộng nhanh chóng, trở thành một trụ cột của kinh tế xanh và phát triển bền vững. 

Khi tất cả các yếu tố này được vận hành đồng bộ, thị trường carbon rừng sẽ không chỉ góp phần chống biến đổi khí hậu mà còn mở ra hướng phát triển xanh, bền vững cho nền kinh tế Việt Nam trong nhiều thập niên tới.

Để hoàn thiện nội dung theo quy định, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm trân trọng mời các nhà khoa học, tổ chức, cá nhân, cán bộ kỹ thuật và quản lý trong lĩnh vực liên quan gửi ý kiến góp ý trong thời gian 60 ngày kể từ ngày đăng thông báo. Văn bản góp ý gửi về Phòng Khoa học, Công nghệ và Hợp tác quốc tế – Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, số 02 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội.

Hà Lan: Máy bay điện E9X hướng tới chở 90 hành khách, bay 1.000 km

Sử dụng hệ thống pin tích hợp trong cánh, máy bay E9X của công ty khởi nghiệp Hà Lan Elysian Aircraft được thiết kế để chở 90 hành khách, với tầm bay ban đầu 800 km và mục tiêu đạt 1.000 km. Dự kiến đi vào khai thác năm 2034, mẫu máy bay này được kỳ vọng góp phần giảm đáng kể lượng phát thải của ngành hàng không…

Khơi thông nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế biển

Góp ý kiến vào dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật; đồng thời làm rõ một số nội dung để luật vừa tạo động lực phát triển kinh tế biển, vừa bảo vệ môi trường, chủ quyền và lợi ích quốc gia, hướng mục tiêu phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh...

Chuyển đổi xanh, giảm phát thải ngành lạnh, quản lý môi chất theo vòng đời

Theo lộ trình, Việt Nam thực hiện mục tiêu cắt giảm 67,5% lượng tiêu thụ cơ sở HCFC trong giai đoạn 2025-2029, tiến tới giảm 97,5% từ năm 2030 và loại trừ hoàn toàn vào năm 2040. Từ thực tế lượng thiết bị đang sử dụng HCFC-22 hiện nay với nhu cầu môi chất lạnh cho sửa chữa, bảo dưỡng vẫn còn lớn trong khi nguồn mới bị hạn chế đặt ra bài toán thu hồi, tái chế, tái sử dụng, quản lý môi chất theo vòng đời. Tính toán cho thấy Việt Nam sẽ thiếu hụt khoảng 1.000 tấn HCFC-22 vào năm 2030…

Cắt giảm thủ tục nhưng không cắt giảm trách nhiệm môi trường, nới tiền kiểm nhưng phải siết hậu kiểm

Nhấn mạnh tinh thần xuyên suốt trong việc sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu rõ việc cắt thủ tục nhưng không cắt trách nhiệm; nới tiền kiểm nhưng phải siết hậu kiểm; phân cấp nhưng không phân tán; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Nếu giảm tiền kiểm nhưng năng lực hậu kiểm không đáp ứng yêu cầu thì sẽ khó bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường...

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy