
Trong tình cảnh xuất khẩu nhóm các mặt hàng nông sản trong quý đầu năm giảm 13,4% so với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu chè bất ngờ tăng tới 15,4% về giá trị. Đây là tín hiệu vui cho ngành chè, nhất là trong bối cảnh kim ngạch xuất khẩu chè liên tục sụt giảm những năm qua.
Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, lượng chè xuất khẩu tháng 3/2019 ước đạt 8 nghìn tấn, đem về 15 triệu USD.
Giá chè xuất khẩu tăng 11%
Lũy kế 3 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu chè ước đạt 26 nghìn tấn và 45 triệu USD, tăng 2,1% về lượng và tăng 15,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Mức tăng này chủ yếu đến từ thị trường Pakistan - thị trường lớn nhất của chè Việt Nam với 34,6% thị phần và tăng đến 91% về lượng và tăng 75,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.
Trong 5 năm gần đây, lượng nhập khẩu chè của Pakistan liên tục tăng, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt khoảng 8%/năm (theo ITC). Tuy nhiên, thị phần của chè Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Pakistan vẫn còn rất thấp, chỉ khoảng 2,2% trong năm 2018.
Nhìn lại năm 2018, theo số liệu của Tổng cục Hải quan, cả nước xuất khẩu 127.338 tấn chè, thu về 217,83 triệu USD, giảm 8,9% về lượng và giảm 4,4% về kim ngạch so với năm 2017. Trong đó, Pakistan là thị trường nhập khẩu chè số một của Việt Nam, với 38.213 tấn, tương đương 81,63 triệu USD, chiếm 30% trong tổng lượng chè xuất khẩu của Việt Nam và chiếm 37,5% về kim ngạch, tăng 19,4% về lượng và tăng 18,8% về kim ngạch so với năm 2017.
Đài Loan là thị trường lớn thứ hai tiêu thụ chè của Việt Nam chiếm gần 14,6% về lượng và chiếm 13,2% trong tổng kim ngạch, đạt 18.573 tấn, tương đương 28,75 triệu USD, tăng 6% về lượng và tăng 5,4% về kim ngạch.
Riêng xuất khẩu chè sang Trung Quốc do tăng giá mạnh so với năm 2017; vì vậy, lượng chè xuất khẩu tuy giảm 8,8%, đạt 10.121 tấn nhưng kim ngạch lại tăng 34,2%, đạt 19,67 triệu USD.
Giá chè xuất khẩu bình quân của cả nước năm 2018 tăng 4,9% so với năm 2017 và trong quý 1/2019 (đạt 1.727 USD/tấn) tăng 11% so với quý 1/2018. Đây là thành quả của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình nỗ lực cơ cấu lại sản phẩm chè xuất khẩu, chú trọng vào các sản phẩm chè đặc sản và sản phẩm mới.
Đặc biệt, Tổng công ty Chè Việt Nam (Vinatea) đã tung ra 10 sản phẩm xuất khẩu trong năm 2018, chia thành 3 dòng: trà cao cấp, trà sợi rời và trà túi lọc. Trong đó, dòng trà cao cấp gồm 4 loại chính là: Bạch trà trăm năm, Đinh xuân trà, Hồng Vương trà, Ôlong Thượng hạng.
Bắt kịp thị hiếu tiêu dùng thế giới
Vinatea, trước đây là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, và là doanh nghiệp có quy mô, địa bàn hoạt động lớn nhất ngành chè Việt Nam, từng trải qua thời kỳ hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ. Nhưng từ khi cổ phần hóa vào năm 9/2017, Vinatea đã nhanh chóng tái cơ cấu và hoạt động sản xuất - kinh doanh tăng trưởng cao, lợi nhuận ngày càng tăng.
Theo ông Nguyễn Hồng Anh - Tổng giám đốc Vinatea, năm 2018 ghi nhận là năm Vinatea đạt sản lượng xuất khẩu trực tiếp nhiều nhất, và cũng là năm thị trường xuất khẩu mở rộng lớn nhất, đặc biệt là các thị trường cấp cao. Để đạt được kết quả này, cùng với thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu các dòng sản phẩm chè cao cấp, Vinatea tận dụng mọi cơ hội để quảng bá sản phẩm ra thế giới.
Đặc biệt, tại Hội chợ nhập khẩu quốc tế Trung Quốc lần thứ nhất (CIIE 2018) ở Thượng Hải diễn ra tháng 11/2018, đích thân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã cầm sản phẩm chè Vinatea giới thiệu với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Vinatea tin tưởng xuất khẩu chè Việt vào Trung Quốc trong năm 2019 này sẽ càng tăng tốc mạnh.
Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) dự báo, sản lượng chè đen toàn cầu sẽ tăng 2,2% mỗi năm trong thập kỷ tới, đạt 4,4 triệu tấn vào năm 2027; trong khi đó, sản lượng chè xanh toàn cầu dự báo còn tăng nhanh hơn, khoảng 7,5% mỗi năm, đạt 3,6 triệu tấn vào 2027.
Tuy sản lượng tăng, nhưng tiêu thụ thời gian tới sẽ rộng mở hơn, bởi thị trường chè được dự báo sẽ vẫn không ngừng tăng đều đặn, chủ yếu bởi Trung Quốc, nơi chiếm gần 40% tổng tiêu thụ chè toàn cầu và đang sử dụng lượng chè xanh cao nhất trong lịch sử. Trong khi đó, nhu cầu ở những thị trường khác cũng không ngừng tăng lên, trong đó có Ấn Độ, dư sức bù lại cho mức tăng trưởng yếu ở châu Âu.
Về thị hiếu, những năm qua thị trường chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ về thói quen thưởng trà của người tiêu dùng. Trước đây người tiêu dùng thích uống trà truyền thống trong bữa sáng, là chè đen hoặc trà xanh thô. Nhưng hiện nay, nhu cầu tiêu dùng các loại trà đặc sản, trà có hàm lượng chế biến cao, phối trộn với nhiều loại đồ uống bổ dưỡng khác.
Trong đó, có 2 phân khúc đang phát triển rất mạnh, đó là trà thảo mộc và trà chế biến thủ công (theo cách truyền thống, từ bàn tay của những nghệ nhân). Đây là những chủng loại mà các doanh nghiệp chè Việt Nam cần phải chú trọng đầu tư trong thời gian tới để gia tăng giá bán và kim ngạch xuất khẩu.
Biến động giá nhiên liệu đặt doanh nghiệp xăng dầu trước yêu cầu cân đối vốn nhập hàng, hàng tồn kho và lịch thanh toán. Sự kết nối giữa tín dụng và quản trị dòng tiền trở thành điểm tựa giúp doanh nghiệp chủ động duy trì nhịp kinh doanh.
Diễn đàn “Phát triển công nghiệp dầu khí Việt Nam: Đảm bảo tăng trưởng bền vững” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy – Vietnam Economic Times tổ chức sẽ diễn ra chiều 29/10/2026 tại Trung tâm hội nghị BMC, tầng 11, Tòa nhà V.E.T Building, 98 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt để ngành nông nghiệp và môi trường nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng. Tuy nhiên, sản xuất còn phân tán, công nghệ bảo quản, chế biến sâu hạn chế, dữ liệu chưa liên thông đang cản trở tăng trưởng. Tháo gỡ những điểm nghẽn này đòi hỏi tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nhà trường...
Mỗi sáng kiến dù nhỏ, nếu được áp dụng hiệu quả và được chia sẻ, nhân rộng, sẽ tạo nên nguồn lực đổi mới mạnh mẽ…
Làn sóng điều tra phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp pháp trên toàn cầu đang gia tăng mạnh mẽ. Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Canada, Ấn Độ, Mexico và Australia đang đứng trước nguy cơ cao bị đưa vào diện điều tra, theo dõi hoặc áp thuế...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Thảo luận Luật Nhà ở (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội cho rằng, đối với các dự án nhà ở cho thuê do Nhà nước đầu tư để dẫn dắt thị trường thì cần yêu cầu công khai đầy đủ cấu phần giá thành gồm chi phí đất, xây dựng, tài chính, quản lý, vận hành, bảo trì và các khoản chi phí hợp pháp khác. Việc công khai này giúp hình thành mặt bằng tham chiếu đáng tin cậy cho thị trường...