Thưa ông, trong những năm qua, chủ trương liên kết vùng của Đảng và Nhà nước đã từng bước được hiện thực hóa, tạo bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội cho các địa phương. Tuy nhiên, vẫn còn không ít những bất cập đòi hỏi phải sớm có giải pháp khắc phục. Ông nghĩ sao về điều này?
Thực tiễn phát triển đất nước đang đặt ra nhiều vấn đề bức thiết (nguồn nước, biến đổi khí hậu, phát triển hạ tầng kết nối…) mà từng địa phương riêng lẻ không thể tự giải quyết được hoặc không giải quyết hiệu quả. Theo đó, các địa phương, các vùng phải đẩy mạnh liên kết, tận dụng cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ và nguồn nhân lực để phát triển kinh tế vùng, nội vùng đồng thời giải quyết những vấn đề chung liên quan đến biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, thiên tai, dịch bệnh nhằm tạo lợi thế so sánh trong cạnh tranh, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Nhìn nhận những kết quả đạt được trong liên kết vùng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2021) cũng chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong liên kết vùng, như: chủ trương, chính sách về liên kết vùng chậm đi vào thực thi; vai trò của các chủ thể tham gia liên kết vùng còn mờ nhạt cơ chế thực thi chính sách liên kết vùng chưa phát huy hiệu lực và hiệu quả cao nhất.
Một số nguyên nhân quan trọng dẫn tới thực trạng này là vẫn còn tồn tại tư duy “nhiệm kỳ”, “lợi ích cục bộ địa phương” và chưa có cơ chế hình thành tài sản chung của vùng khiến cho chính quyền địa phương chưa thấy được lợi ích từ liên kết vùng; cơ chế phân công nhiệm vụ phát triển kinh tế ở cấp địa phương có thể khiến cho chính quyền địa phương không tích cực tham gia liên kết vùng, bên cạnh các nguyên nhân khác.
Nhận rõ tầm quan trọng của liên kết vùng với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong những năm qua, chủ trương liên kết vùng của Đảng và Nhà nước đã dần đi vào thực tiễn đất nước, xây dựng cơ chế, chính sách và hành lang pháp lý có nhiều thuận lợi cho các cấp ngành, địa phương, cơ sở thực hiện hiệu quả liên kết vùng cũng như từng bước tháo gỡ những tồn tại, hạn chế để thúc đẩy liên kết vùng.
Mới đây, CIEM phát hành báo cáo Nghiên cứu khả năng xây dựng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cấp độ vùng ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc trong bối cảnh chuyển đổi số. Ông đánh giá như thế nào về các mục tiêu kinh tế - xã hội mà các địa phương đưa ra trong mối liên kết với phát triển vùng?
Trong các vùng kinh tế - xã hội, vùng Trung du và miền núi phía Bắc còn gặp nhiều khó khăn, bất lợi trong phát triển kinh tế-xã hội nói chung và trong thúc đẩy liên kết vùng nói riêng. Nhiều tiềm năng, lợi thế của vùng vẫn chưa được khai thác hợp lý và phát huy hiệu quả. Vùng Trung du và miền núi phía Bắc vẫn là “vùng trũng” trong phát triển và là “lõi nghèo” của cả nước.
Tuy nhiên, vùng lại có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh, đối ngoại có nhiều tiềm năng chưa được khai thác và phát triển xứng tầm. Vì vậy, ngày 1/7/2004, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 37-NQ/TW nhằm phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020.
Bộ Chính trị cũng đã chỉ ra những nguyên nhân khách quan và chủ quan của những hạn chế, yếu kém trong phát triển của Vùng thời gian qua, trong đó nhấn mạnh nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 10/2/2022 về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, với 5 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu, trong đó có nhóm nhiệm vụ và giải pháp về hoàn thiện thể chế phát triển và liên kết vùng.
Bên cạnh đó, căn cứ Đề án Thể chế liên kết vùng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 21/4/2022 về nhiệm vụ, giải pháp hoàn thiện thể chế liên kết vùng kinh tế - xã hội. Tại Nghị quyết này, Chính phủ đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ, ngành, địa phương thực hiện một loạt nhiệm vụ, giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện thể chế liên kết vùng. Trong đó, một nhiệm vụ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư là “Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương nghiên cứu tính khả thi của việc giao chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo từng vùng”.
Việc giao chỉ tiêu này không hướng tới yêu cầu hành chính một cách thuần túy, mà hướng tới tạo động lực thực chất để các địa phương trong vùng cùng hợp tác, hành động vì mục tiêu phát triển chung của vùng. Nhiệm vụ này cũng gắn bó mật thiết với nhiệm vụ khác của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong Nghị quyết số 57/NQ-CP về xây dựng các tiêu chí cho các dự án liên kết vùng.
Tuy nhiên, nghiên cứu đánh giá về hệ thống chỉ tiêu kinh tế-xã hội của địa phương cho thấy các chỉ tiêu đang được áp dụng ở cấp tỉnh khá dàn trải. Trong khi đó, các chỉ tiêu đánh giá phát triển vùng hiện nay vẫn chỉ cộng gộp từ các địa phương, nên chưa đánh giá được hết đặc thù của từng địa phương trong vùng.
Ngoài ra là những bất cập của hệ thống chỉ tiêu cũ liên quan đến vùng Trung du và miền núi phía Bắc như: chưa có thể chế trực tiếp sử dụng kết quả theo dõi, đánh giá một số chỉ tiêu cấp vùng một cách định kỳ phục vụ công tác điều hành; phương pháp tính toán thu thập số liệu và gộp từ số liệu cấp địa phương trong vùng lên số liệu cấp vùng còn đang hoàn thiện; quy hoạch định hướng phát triển cho vùng Trung du và miền núi phía Bắc trên cơ sở tính đặc thù của các địa phương trong vùng còn hạn chế; phân cấp thực hiện chưa rõ ràng, nguồn lực (tài chính, nhân lực) để bảo đảm xây dựng, điều chỉnh và theo dõi, giám sát các chỉ tiêu thống kê kinh tế - xã hội ở các địa phương trong vùng còn khó khăn...
Vậy, tại sao phải đặt câu chuyện liên kết giữa các địa phương vùng Trung du và miền núi phía Bắc với chuyển đổi số, thưa ông?
Công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số đã và đang ảnh hưởng sâu sắc tới nhiều ngành nghề và lĩnh vực. Việc thúc đẩy quy hoạch vùng và liên kết vùng cũng là một hoạt động quan trọng góp phần hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi từ nền kinh tế truyền thống sang nền kinh tế số.
Cụ thể, với việc tăng cường thu thập, chia sẻ, phân tích dữ liệu vào các hoạt động của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất kinh doanh cũng như điều hành kinh tế-xã hội, Công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số có thể giúp các địa phương gắn kết các ngành lĩnh vực chủ lực, thúc đẩy ứng dụng hiệu quả công nghệ cao trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, xây dựng hạ tầng, kỹ thuật và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đồng thời, Công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số cũng giúp chính phủ và cơ quan điều phối phát triển vùng có cái nhìn tổng quát và khả năng theo dõi, đánh giá cập nhật hơn về tình hình phát triển kinh tế theo vùng, thay vì chỉ theo báo cáo tổng hợp của từng địa phương riêng lẻ.
VnEconomy 03/11/2022 06:00
Giao diện não - máy tính (Brain Computer Interface - BCI) là một công nghệ kết nối cho phép não bộ con người giao tiếp trực tiếp với các thiết bị bên ngoài mà không cần đến các thao tác vật lý. BCI có nhiều ứng dụng đa dạng, bao gồm hỗ trợ người khuyết tật, nâng cao khả năng của con người và thúc đẩy nghiên cứu. Những giao diện này có tiềm năng đáng kể để cách mạng hóa phương thức giao tiếp, chăm sóc sức khỏe và tương tác giữa con người và máy tính, mang đến những cơ hội thú vị cho tương lai.
Trong vài thập kỷ qua, thế giới nghệ thuật đã trải qua một sự chuyển đổi mang tính đột phá với sự ra đời của công nghệ kỹ thuật số. Các công cụ và tiến bộ trong kỹ thuật số không chỉ tác động sâu sắc đến cách thức sáng tạo của các nghệ sĩ mà còn ảnh hưởng đáng kể đến cách khán giả tương tác và cảm nhận nghệ thuật.
Việt Nam đang nổi lên như một trong những trung tâm khởi nghiệp về game và ứng dụng AI đáng chú ý tại châu Á. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của các startup hiện nay không phải năng lực công nghệ mà là khả năng đưa sản phẩm ra thị trường, xây dựng đội ngũ lãnh đạo và phát triển doanh nghiệp có sức cạnh tranh toàn cầu…
Theo thống kê, giá nhà ở tại Việt Nam hiện đã tăng 400 lần so với năm 1990. Từ quý 3/2025 đến nay, hầu hết các dự án mới ra mắt tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh đều có giá bán trên 100 triệu đồng/m2. Giá nhà tăng cao không chỉ ảnh hưởng tới an sinh xã hội, gây bất bình đẳng xã hội mà còn tác động tiêu cực tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các đô thị lớn. Khi chi phí nhà ở chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong thu nhập, chi phí sinh hoạt tại đô thị ngày càng đắt đỏ, các doanh nghiệp phải đối mặt với thách thức trong việc thu hút và giữ chân lao động, còn lao động trẻ thì mất độ̂ng lực sở hữu nhà, dẫn đến không muốn kết hôn, sinh con...
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy về phân khúc nhà ở cho thuê, ông Nguyễn Văn Đính, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Chủ tịch Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam, cho rằng việc phát triển đồng bộ thị trường nhà ở cho thuê sẽ góp phần bổ sung nguồn cung lớn các sản phẩm nhà ở phù hợp với khả năng chi trả của đa số người dân. Đồng thời, các đô thị lớn sẽ có thêm nhiều “chốn an cư khởi đầu” - nền tảng quan trọng để hình thành các hộ gia đình mới, duy trì lực lượng lao động và tạo động lực cho sự phát triển bền vững trong dài hạn.
Kinh tế ngày nay không còn là một lĩnh vực tách biệt, mà được định hình mạnh mẽ bởi địa chính trị, công nghệ và tính bền vững. Giữa dòng chảy thông tin dồi dào, điều độc giả cần nhất ở báo chí chính thống là bối cảnh, góc nhìn chuyên sâu và sự tin cậy. Trong giai đoạn tới, sứ mệnh lớn nhất của báo chí kinh tế không phải là trở thành người đưa tin nhanh nhất, mà là trở thành nền tảng tinh thần của nền kinh tế.
Hạ tầng năng lượng thông minh đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa vận hành hệ thống năng lượng, tăng cường khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xanh của Việt Nam. Nhận diện các cơ hội và thách thức, đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng năng lượng thông minh đang là yêu cầu cấp thiết.