Kể từ khi tham gia Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực trong quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone, chất gây hiệu ứng nhà kính theo lộ trình cam kết. Ông đánh giá thế nào về đóng góp từ các hành động bảo vệ tầng ozone, làm mát bền vững vào giảm phát thải khí nhà kính, góp phần hiện thực hóa mục tiêu Net Zero của Việt Nam?
Từ khi tham gia Công ước Vienna về bảo vệ tầng ozone và Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozone từ năm 1994, Việt Nam đã loại trừ thành công nhiều chất làm suy giảm tầng ozone, thực hiện quản lý, loại trừ các chất HCFC, HFC theo đúng lộ trình cam kết; đồng thời thúc đẩy triển khai các giải pháp làm mát bền vững.
Theo thống kê của Ban Thư ký ozone, đến tháng 8/2025, Việt Nam đã loại trừ khoảng 240 triệu tấn CO2 tương đương từ các hoạt động quản lý, loại trừ các chất được kiểm soát theo Nghị định thư Montreal, đóng góp quan trọng vào giảm phát thải khí nhà kính. Những nỗ lực này của Việt Nam đã cùng với các quốc gia không chỉ giúp phục hồi tầng ozone về mức năm 1980 mà còn góp phần vào nỗ lực toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính.
Hiện nay, Việt Nam cũng đang thúc đẩy áp dụng các giải pháp làm mát bền vững để giảm lượng phát thải khí nhà kính, góp phần thực hiện mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Những giải pháp này không chỉ giúp xã hội và người dân thích ứng với các hiện tượng thời tiết cực đoan, đặc biệt là nắng nóng, mà còn đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường.
Khi được triển khai một cách đầy đủ và hiệu quả, các giải pháp làm mát bền vững (bao gồm làm mát chủ động- sử dụng điều hòa không khí hiệu suất cao; hạn chế sử dụng các môi chất lạnh gây suy giảm tầng ozone, làm nóng lên toàn cầu để chuyển đổi sang các môi chất lạnh thân thiện với khí hậu cùng với làm mát thụ động: làm mát dựa vào tự nhiên, quy hoạch, thiết kế công trình thân thiện với môi trường, khí hậu) sẽ góp phần giảm đáng kể lượng phát thải khí nhà kính, đóng góp vào việc thực hiện các quy định của Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, Thỏa thuận Paris.
Những kết quả của Việt Nam đã được các tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Để tiếp tục thúc đẩy các hoạt động bảo vệ tầng ozone, làm mát bền vững, theo ông đâu là những vấn đề đặt ra trong thời gian tới?
Theo Kế hoạch quốc gia về quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone, chất gây hiệu ứng nhà kính được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 496/QĐ-TTg ngày 11/6/2024, mục tiêu đến năm 2045 Việt Nam sẽ giảm phát thải 11,2 triệu tấn CO2 tương đương từ hoạt động loại trừ các chất được kiểm soát.
Tôi cho rằng để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp tăng cường quản lý, loại trừ các chất được kiểm soát, thực hiện chuyển đổi công nghệ, sử dụng các chất có giá trị tiềm năng làm nóng lên toàn cầu thấp hoặc bằng “0” và triển khai các giải pháp làm mát bền vững.
Nhằm tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả các hoạt động bảo vệ tầng ozone, làm mát bền vững, đóng góp nhiều hơn nữa cho mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính thời gian tới ở Việt Nam, cần triển khai nhiều hoạt động.
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý, loại trừ chất được kiểm soát và ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật có liên quan. Tăng cường phối hợp liên ngành trong kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật; tăng cường kiểm soát xuất nhập khẩu và việc sử dụng các chất được kiểm soát.
Thứ hai, hỗ trợ, khuyến khích các hoạt động chuyển đổi công nghệ sử dụng các chất thân thiện với khí hậu, cải thiện hiệu suất năng lượng của thiết bị làm mát; thúc đẩy thu gom, tái chế, tái sử dụng và xử lý chất được kiểm soát theo Nghị định thư Montreal.
Triển khai mô hình áp dụng công nghệ làm mát bền vững, kinh doanh dịch vụ làm mát tại các khu đô thị, khu dân cư, tòa nhà văn phòng, thương mại và công trình công cộng. Trong đó, tăng cường để doanh nghiệp và cộng đồng tiếp cận công nghệ, thiết bị và sản phẩm thân thiện khí hậu với mức chi phí hợp lý là một yếu tố quan trọng cần được chú trọng, thúc đẩy.
Thứ ba, triển khai chương trình tập huấn, tăng cường năng lực quản lý, loại trừ các chất được kiểm soát cho cán bộ thực thi, giám sát thực hiện pháp luật; giảng viên tại cơ sở đào tạo; cán bộ tại tổ chức đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề. Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế, huy động sự hỗ trợ của quốc tế để thực hiện tốt các mục tiêu quốc gia.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên không chỉ góp phần bảo vệ sức khỏe của người dân mà còn giúp giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa làm mát bền vững với biến đổi khí hậu, có nghĩa là có thể đáp ứng được nhu cầu làm mát bền vững trong điều kiện nắng nóng cực đoan gia tăng nhưng không gây tác động tiêu cực đến môi trường và làm gia tăng mức độ nghiêm trọng của biến đổi khí hậu.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 119/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone, có hiệu lực từ ngày 1/8/2025. Ông có thể chia sẻ những điểm mới quan trọng trong quy định này có tác động tới hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone?
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn ra cực đoan, khó đoán định, đặc biệt vấn đề nắng nóng thì các giải pháp làm mát bền vững là rất quan trọng, nhất là với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Các giải pháp làm mát bền vững bao gồm cả các giải pháp làm mát thụ động và chủ động. Khi áp dụng các giải pháp làm mát bền vững, sử dụng các sản phẩm thiết bị có hiệu suất cao thân thiện với môi trường và khí hậu sẽ góp phần giải quyết các vấn đề liên quan đến tăng cường sức chống chịu cho người dân, bảo vệ sức khỏe cộng đồng trước những tác động do các đợt nắng nóng ngày càng cực đoan, xảy ra với tần suất lớn hơn.
Ngày 9/6/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 119/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone. Theo đó, lần đầu tiên, khái niệm làm mát bền vững đã được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật, trong Nghị định số 119/2025/NĐ-CP.
Nghị định đã bổ sung danh mục cấm sản xuất, nhập khẩu các chất làm suy giảm tầng ozone đã được loại trừ hoàn toàn và một số chất không còn sử dụng trong lĩnh vực ứng dụng cụ thể, phù hợp với tình hình thực tiễn và kinh nghiệm của các nước trên thế giới thi hành Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozone.
Nghị định cũng bổ sung lộ trình quản lý, loại trừ các chất có chứa trong thiết bị, sản phẩm hoặc chất được kiểm soát sử dụng để sản xuất thiết bị, sản phẩm nhằm quản lý hiệu quả thiết bị, sản phẩm sử dụng các chất được kiểm soát có giá trị tiềm năng làm nóng lên toàn cầu cao. Lộ trình quản lý, loại trừ các chất này phù hợp với nội dung Kế hoạch quốc gia về quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone, chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Nghị định sửa đổi quy định nhà sản xuất, nhập khẩu các thiết bị, sản phẩm có chứa hoặc sản xuất từ các chất được kiểm soát có năng suất lạnh danh định dưới 26,5 kW (90.000 BTU/h) hoặc công suất điện dưới 40 kW sẽ phải thực hiện thu gom, tái chế, xử lý các chất được kiểm soát từ ngày 1/1/2028.
Đối với thiết bị, sản phẩm có năng suất lạnh danh định từ 26,5 kW (90.000 BTU/h) trở lên và thiết bị lạnh công nghiệp có công suất điện từ 40 kW trở lên, việc thu gom, tái chế, xử lý các chất được kiểm soát thuộc trách nhiệm của chủ sở hữu.
Việc triển khai các dự án giảm phát thải, làm mát, bảo vệ ozone sẽ mở ra cơ hội tiếp cận đăng ký tạo tín chỉ carbon, nguồn lực tài chính để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư chuyển đổi xanh. Ông đánh giá thế nào về sự vào cuộc của các doanh nghiệp hiện nay?
Theo quy định tại Nghị định số 06/02022/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 119/02025/NĐ-CP, các tổ chức có hoạt động liên quan đến các chất được kiểm soát phải thực hiện đăng ký, báo cáo sử dụng các chất này.
Đến nay, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tiếp nhận và công bố các tổ chức đăng ký sử dụng các chất được kiểm soát gồm: 9 tổ chức có hoạt động sản xuất chất được kiểm soát; 100 tổ chức có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu chất được kiểm soát; 59 tổ chức sản xuất, nhập khẩu thiết bị, sản phẩm có chứa hoặc sản xuất từ chất được kiểm soát. Bên cạnh đó là 324 tổ chức sở hữu thiết bị chứa các chất được kiểm soát, bao gồm máy điều hòa không khí có năng suất lạnh danh định từ 26,5 kW (90.000 BTU/h) trở lên; thiết bị lạnh công nghiệp có công suất điện từ 40 kW trở lên; 6 tổ chức thực hiện dịch vụ thu gom, tái chế, tái sử dụng và xử lý các chất này.
Nhìn vào số liệu đăng ký trên có thể thấy hoạt động thu gom, tái chế và xử lý các chất được kiểm soát tại Việt Nam vẫn còn hạn chế.
Tuy nhiên, thời gian tới, khi triển khai các hoạt động này theo phương pháp luận phù hợp và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, các doanh nghiệp có thể tính toán, quy ra được lượng giảm phát thải CO2 tương đương. Điều này mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp đăng ký tạo tín chỉ carbon và tham gia giao dịch trên thị trường carbon.
Tôi tin rằng, đây không chỉ là một nguồn lực tài chính quan trọng mà còn là động lực khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào các giải pháp công nghệ chuyển đổi xanh, từ đó thúc đẩy hiệu quả trong thu gom, tái chế và xử lý các chất được kiểm soát tại Việt Nam.
Để có thể khai thác cơ hội tiềm năng, triển khai hiệu quả các giải pháp làm mát bền vững, giảm phát thải khí nhà kính, Việt Nam đang và sẽ có những cơ chế chính sách gì hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực tài chính, công nghệ, kỹ thuật?
Trong thời gian qua, với sự hỗ trợ tích cực của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Quỹ Đa phương thi hành Nghị định thư Montreal, Ngân hàng Thế giới, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc và các đối tác phát triển khác, Việt Nam đã thực hiện nhiều hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi sang công nghệ thân thiện với khí hậu nhằm bảo vệ tầng ozone, giảm phát thải khí nhà kính.
Cụ thể, đối với lĩnh vực sản xuất điều hòa không khí gia dụng: hỗ trợ chuyển đổi sang công nghệ sử dụng R-32, giúp loại trừ 51,65 tấn HCFC-22 tương đương 83.664 tấn CO2 hằng năm; đối với lĩnh vực sản xuất thiết bị lạnh công nghiệp: hỗ trợ chuyển đổi sang công nghệ sử dụng NH3, giúp loại trừ 25,97 tấn HCFC-22 tương đương 47.004 tấn CO2 hằng năm.
Với lĩnh vực sản xuất xốp cách nhiệt: hỗ trợ chuyển đổi sang công nghệ sử dụng Cyclo-pentane, giúp loại trừ 148 tấn HCFC-141b tương đương 104.718 tấn CO2 hằng năm; hỗ trợ xây dựng trạm trộn polyol trộn sẵn HFO để hỗ trợ các doanh nghiệp xốp nhỏ và vừa chuyển đổi công nghệ, giúp loại trừ 85,94 tấn HCFC-141b tương đương 62.304 tấn CO2 hằng năm.
Bên cạnh việc áp dụng để chuyển đổi sang công nghệ mới, trong thời gian qua, Cục Biến đổi khí hậu đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành để triển khai nhiều hoạt động nhằm tăng cường năng lực, nâng cao nhận thức và hỗ trợ doanh nghiệp trong các hoạt động loại trừ các chất được kiểm soát, áp dụng các giải pháp làm mát bền vững một cách phù hợp và hiệu quả.
Cục Biến đổi khí hậu đã chủ động, tích cực tham mưu cho Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành các quy định liên quan đến tài chính xanh. Nghị định số 119/02025/NĐ-CP đã bổ sung quy định về khuyến khích các hoạt động về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone.
Theo đó, tổ chức, cá nhân có hoạt động nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao và phát triển công nghệ giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, làm mát bền vững thân thiện với khí hậu và bảo vệ tầng ozone, cung cấp dịch vụ thu gom, tái chế và xử lý các chất được kiểm soát được hưởng ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ, công nghệ cao và bảo vệ môi trường.
Cùng với đó triển khai các hoạt động kết nối doanh nghiệp với các nguồn lực tài chính ưu đãi từ các quỹ đầu tư, ngân hàng phát triển đa phương và các định chế tài chính. Qua đó, doanh nghiệp sẽ có cơ hội áp dụng các giải pháp xanh, giảm phát thải, đồng thời góp phần bảo vệ tầng ozone, từ đó tiếp cận dễ dàng hơn với các nguồn tài chính xanh.
Đặc biệt, các công cụ như tín dụng xanh và tín chỉ carbon sẽ đóng vai trò quan trọng trong thời gian tới. Cục Biến đổi khí hậu dự kiến sẽ tham mưu để Bộ Nông nghiệp và Môi trường có hướng dẫn các doanh nghiệp trong áp dụng những công cụ này. Nếu các doanh nghiệp thực hiện hoạt động giảm phát thải khí nhà kính theo đúng phương pháp và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, họ hoàn toàn có khả năng tạo ra tín chỉ carbon được công nhận. Những tín chỉ này có thể được giao dịch trên thị trường, mang lại lợi ích kinh tế cho chính doanh nghiệp và góp phần vào nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu của quốc gia.
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 39-2025 phát hành ngày 29/09/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam.html
Giao diện não - máy tính (Brain Computer Interface - BCI) là một công nghệ kết nối cho phép não bộ con người giao tiếp trực tiếp với các thiết bị bên ngoài mà không cần đến các thao tác vật lý. BCI có nhiều ứng dụng đa dạng, bao gồm hỗ trợ người khuyết tật, nâng cao khả năng của con người và thúc đẩy nghiên cứu. Những giao diện này có tiềm năng đáng kể để cách mạng hóa phương thức giao tiếp, chăm sóc sức khỏe và tương tác giữa con người và máy tính, mang đến những cơ hội thú vị cho tương lai.
Trong vài thập kỷ qua, thế giới nghệ thuật đã trải qua một sự chuyển đổi mang tính đột phá với sự ra đời của công nghệ kỹ thuật số. Các công cụ và tiến bộ trong kỹ thuật số không chỉ tác động sâu sắc đến cách thức sáng tạo của các nghệ sĩ mà còn ảnh hưởng đáng kể đến cách khán giả tương tác và cảm nhận nghệ thuật.
Việt Nam đang nổi lên như một trong những trung tâm khởi nghiệp về game và ứng dụng AI đáng chú ý tại châu Á. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của các startup hiện nay không phải năng lực công nghệ mà là khả năng đưa sản phẩm ra thị trường, xây dựng đội ngũ lãnh đạo và phát triển doanh nghiệp có sức cạnh tranh toàn cầu…
Theo thống kê, giá nhà ở tại Việt Nam hiện đã tăng 400 lần so với năm 1990. Từ quý 3/2025 đến nay, hầu hết các dự án mới ra mắt tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh đều có giá bán trên 100 triệu đồng/m2. Giá nhà tăng cao không chỉ ảnh hưởng tới an sinh xã hội, gây bất bình đẳng xã hội mà còn tác động tiêu cực tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các đô thị lớn. Khi chi phí nhà ở chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong thu nhập, chi phí sinh hoạt tại đô thị ngày càng đắt đỏ, các doanh nghiệp phải đối mặt với thách thức trong việc thu hút và giữ chân lao động, còn lao động trẻ thì mất độ̂ng lực sở hữu nhà, dẫn đến không muốn kết hôn, sinh con...
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy về phân khúc nhà ở cho thuê, ông Nguyễn Văn Đính, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Chủ tịch Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam, cho rằng việc phát triển đồng bộ thị trường nhà ở cho thuê sẽ góp phần bổ sung nguồn cung lớn các sản phẩm nhà ở phù hợp với khả năng chi trả của đa số người dân. Đồng thời, các đô thị lớn sẽ có thêm nhiều “chốn an cư khởi đầu” - nền tảng quan trọng để hình thành các hộ gia đình mới, duy trì lực lượng lao động và tạo động lực cho sự phát triển bền vững trong dài hạn.
Kinh tế ngày nay không còn là một lĩnh vực tách biệt, mà được định hình mạnh mẽ bởi địa chính trị, công nghệ và tính bền vững. Giữa dòng chảy thông tin dồi dào, điều độc giả cần nhất ở báo chí chính thống là bối cảnh, góc nhìn chuyên sâu và sự tin cậy. Trong giai đoạn tới, sứ mệnh lớn nhất của báo chí kinh tế không phải là trở thành người đưa tin nhanh nhất, mà là trở thành nền tảng tinh thần của nền kinh tế.
Hạ tầng năng lượng thông minh đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa vận hành hệ thống năng lượng, tăng cường khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xanh của Việt Nam. Nhận diện các cơ hội và thách thức, đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng năng lượng thông minh đang là yêu cầu cấp thiết.