Theo ông, đâu là những lợi thế của Việt Nam để thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, phát triển bền vững và xu hướng chuyển dịch dòng vốn xanh?
Việt Nam có vị trí thuận lợi để dẫn đầu sự chuyển đổi kinh tế xanh ở Đông Nam Á. Nghiên cứu Triển vọng Doanh nghiệp của UOB năm 2024 cho thấy hơn 45% doanh nghiệp đã và đang áp dụng các biện pháp bền vững để thu hút nhà đầu tư.
Là thị trường đang tăng trưởng nhanh, cộng với sự cam kết mạnh mẽ từ Chính phủ trong việc đạt Net Zero vào năm 2050 được thể hiện qua các chiến lược phát triển xanh quốc gia cũng đã tạo ra môi trường ổn định cho các khoản đầu tư xanh.
Về nguồn năng lượng tái tạo, Việt Nam có nhiều nguồn tài nguyên năng lượng tái tạo như ánh sáng mặt trời, gió và thủy điện, giúp Việt Nam có lợi thế để dẫn đầu trong sản xuất năng lượng sạch, thu hút đáng kể dòng vốn xanh.
Thêm vào đó, với lực lượng lao động kỹ thuật số trẻ, Việt Nam đã nắm giữ những yếu tố then chốt để thành công trong chuyển đổi xanh.
Vậy những thách thức của Việt Nam là gì, thưa ông?
Là một ngân hàng khu vực hàng đầu tại Việt Nam, UOB quan sát chặt chẽ quá trình chuyển đổi xanh của đất nước này. Vị trí của Việt Nam trong ASEAN làm cho sự bền vững trở thành động lực chính cho sự tăng trưởng trong tương lai. Tuy nhiên, vẫn còn những thách thức tồn tại như: Chi phí cao, cơ sở hạ tầng năng lượng tái tạo chưa phát triển đầy đủ, hạn chế tiếp cận với các giải pháp tài chính xanh.
Nghiên cứu Triển vọng Doanh nghiệp của UOB năm 2024 chỉ ra rằng 34% các nhà sản xuất và kỹ sư Việt Nam phải đối mặt với vấn đề về lợi nhuận trong các sáng kiến xanh. Điều này có thể dẫn đến giá cả hàng hóa cao hơn, ảnh hưởng đến doanh số bán hàng.
Nghiên cứu này cũng chỉ ra 38% các doanh nghiệp Việt Nam nhận thấy cơ sở hạ tầng năng lượng tái tạo chưa phát triển đầy đủ. Mặt khác, sự thiếu hụt các giải pháp tài chính xanh như một rào cản đáng kể (theo phản hồi của 50% các doanh nghiệp tham gia khảo sát). Các khoản vay truyền thống có thể không phù hợp cho các dự án xanh dài hạn với thời gian trả nợ kéo dài.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng tìm kiếm những ưu đãi về thuế và tiếp cận dễ dàng hơn với các giải pháp tài chính xanh, phù hợp với các nỗ lực bền vững đang diễn ra trên toàn cầu. Bên cạnh kết quả tài chính, các nhà đầu tư đang ngày càng quan tâm đến các doanh nghiệp mang lại tác động tích cực đến môi trường. Chính phủ Việt Nam đóng vai trò quan trọng. Giảm thuế, đơn giản hóa quy định và đầu tư vào cơ sở hạ tầng năng lượng tái tạo có thể tạo ra một môi trường hỗ trợ tốt hơn cho các doanh nghiệp xanh.
Theo ông, hành động nào của Chính phủ Việt Nam để lại ấn tượng cho các nhà đầu tư quốc tế, trong đó có UOB, trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, hướng đến mục tiêu Net Zero vào năm 2050 như cam kết của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại COP26?
Là một quốc gia rất dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu, Việt Nam đã thực hiện nhiều cam kết quan trọng đối với phát triển kinh tế xanh và phát triển bền vững. Chính phủ đã triển khai nhiều chính sách và sáng kiến nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh như: Cam kết phát thải ròng bằng không vào năm 2050; Không xây dựng thêm nhà máy điện than sau năm 2030 và sẽ loại bỏ các nhà máy điện than hiện có trước năm 2040 để hướng tới việc giảm phát thải khí nhà kính và cải thiện chất lượng không khí; 100% sử dụng xe buýt và taxi xanh đến năm 2030, giúp giảm ô nhiễm không khí và nâng cao sức khỏe cộng đồng; Thử nghiệm giao dịch carbon đến năm 2025, giúp định giá cho carbon và khuyến khích doanh nghiệp giảm lượng phát thải của mình.
Ngoài ra, như đã nói ở trên, Việt Nam có lực lượng lao động trẻ và năng động, tầng lớp trung lưu tăng trưởng nhanh và môi trường chính trị ổn định, là những điều kiện thuận lợi cho đầu tư xanh.
Với sự quyết tâm và của Chính phủ, cùng với những lợi thế mà Việt Nam đang có, tôi rất kỳ vọng Việt Nam sẽ đạt Net Zero vào năm 2050 như đã cam kết.
Những hỗ trợ gần đây của UOB nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, bền vững và xu hướng dịch chuyển dòng vốn xanh tại Việt Nam ra sao?
UOB là ngân hàng tiên phong xây dựng tương lai bền vững cho khu vực Đông Nam Á. Đó là cam kết của chúng tôi trong việc xây dựng một ASEAN bền vững.
Chúng tôi nhận ra tiềm năng to lớn của khu vực này, với dân số gần 700 triệu người và tầng lớp trung lưu đang phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, tiến trình này đang bị đe dọa bởi biến đổi khí hậu, với mực nước biển dâng cao, các sự kiện thời tiết cực đoan và thâm hụt GDP dự kiến vượt mức 35% vào năm 2050.
UOB cam kết thực hiện chuyển đổi "công bằng và trật tự" tại khu vực ASEAN, trong đó có Việt Nam. Chúng tôi tin rằng sẽ đạt được mức phát thải ròng bằng không vào năm 2050, dừng sử dụng nhiệt điện than vào năm 2040 và ngừng tài trợ cho các dự án dầu khí và khí đốt mới từ năm 2022 trở đi. Những mục tiêu này được củng cố qua lộ trình giảm thiểu carbon trong khu vực.
Ngoài ra, UOB còn tích cực hợp tác với khách hàng, cung cấp những công cụ và nguồn lực cần thiết để họ áp dụng mô hình kinh doanh ít phát thải carbon hơn. Sự hỗ trợ tài chính bền vững và toàn diện của chúng tôi - bao gồm các công trình xanh, thành phố thông minh, kinh tế tuần hoàn, tài trợ thương mại xanh và tài chính chuyển đổi - sẽ giúp các doanh nghiệp trên nhiều lĩnh vực chuyển mình hướng đến tương lai xanh.
Ông có thể tiết lộ nguồn tín dụng mà UOB dành cho khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng là bao nhiêu?
Tính đến cuối năm 2023, danh mục tài chính xanh của UOB đạt quy mô 450 tỷ đô la Singapore (350 tỷ USD). Con số này chưa đáng kể so với các ngân hàng lớn trên toàn cầu, nhưng lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á. Tính đến cuối năm 2023, chúng tôi đã khử carbon gần 10% danh mục cho vay, và cường độ phát thải của chúng tôi đang thấp hơn 7-14% so tham chiếu ở 6 lĩnh vực trọng điểm cho vay nói trên.
Việc cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, loại bỏ than nhiệt vào năm 2040, và tập trung tài trợ vốn cho 6 lĩnh vực ưu tiên là minh chứng của UOB trong việc hỗ trợ Việt Nam trên hành trình chuyển đổi xanh.
VnEconomy 19/04/2024 06:00




Để làm rõ vấn đề này, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy giới thiệu ý kiến của đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp về thực trạng, triển vọng nhu cầu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam; những vướng mắc trong quá trình thực thi chính sách; đồng thời đề xuất giải pháp phát triển nguồn cung phù hợp, minh bạch hóa thông tin và tăng cường kết nối cung - cầu…
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA), cho rằng rào cản lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam không chỉ là đáp ứng tiêu chuẩn của khối FDI, mà còn nằm ở mạng lưới cung ứng sẵn có của các tập đoàn này. Do đó cần có sự cởi mở hơn từ doanh nghiệp FDI và thay đổi cách tiếp cận trong hỗ trợ nhà cung ứng trong nước, qua đó thúc đẩy kết nối và phát triển chuỗi cung ứng tại Việt Nam.
Trả lời phỏng vấn báo chí bên lề hội thảo “Nhà ở cho người nước ngoài sống và làm việc tại Thành phố Bắc Ninh” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy phối hợp với Ủy ban Nhân dân Thành phố Bắc Ninh tổ chức mới đây, ông Phạm Văn Thịnh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Bắc Ninh, cho biết cùng với quá trình thu hút đầu tư và mở rộng sản xuất, nhu cầu nhà ở của chuyên gia, nhà quản lý và người lao động nước ngoài tại địa phương ngày càng gia tăng.
Câu hỏi của chặng phát triển mới không còn dừng ở việc chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là có thể tổ chức, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực ấy đến đâu. Từ thể chế và môi trường kinh doanh đến sức sống của doanh nghiệp địa phương, từ niềm tin của người trở về quê đến cách ứng xử với di sản và căn tính miền Trung, những câu trả lời gặp nhau ở một điểm: phát triển phải để lại năng lực lớn hơn cho con người và vùng đất, để ngày mai có thể tự tạo ra những cơ hội mới.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Thảo luận Luật Nhà ở (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội cho rằng, đối với các dự án nhà ở cho thuê do Nhà nước đầu tư để dẫn dắt thị trường thì cần yêu cầu công khai đầy đủ cấu phần giá thành gồm chi phí đất, xây dựng, tài chính, quản lý, vận hành, bảo trì và các khoản chi phí hợp pháp khác. Việc công khai này giúp hình thành mặt bằng tham chiếu đáng tin cậy cho thị trường...