
Với chủ đề: “Chuyển dịch năng lượng hướng tới nền kinh tế xanh”, Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2024 được Viện nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) trực thuộc Trường Đại học Kinh Tế - Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Viện Friedrich Naumann Foundation (FNF) Việt Nam công bố ngày 20/6 đã cho thấy rõ bức tranh ngành năng lượng, cũng như những thách thức, rào cản của chuyển dịch năng lượng tái tạo Việt Nam hiện nay.
Theo TS. Nguyễn Quốc Việt, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (Chủ biên báo cáo), xu thế đầu tư vào tiêu dùng năng lượng tái tạo, hướng tới mô hình tăng trưởng xanh là xu thế chung của nền kinh tế toàn cầu.
Chuyển đổi xanh là yêu cầu thực tiễn và xu hướng thời đại, mang tầm vóc toàn cầu, đang ngày càng trở thành ưu tiên hàng đầu của Việt Nam trên hành trình hội nhập, hướng tới phát triển bền vững và toàn diện.
Là một trong những quốc gia châu Á có tham vọng lớn nhất tại COP26, chiến lược phát thải ròng bằng 0 của Việt Nam cam kết giảm 43,5% lượng khí thải vào năm 2030. Tuy nhiên, áp lực ngày càng tăng từ các quy định nghiêm ngặt về môi trường của các nước phát triển đang thúc giục Chính phủ cũng như các doanh nghiệp Việt Nam tham gia nhanh và mạnh mẽ hơn vào chuyển dịch năng lượng hướng tới xanh hóa nền kinh tế.
Điều này vừa là thách thức, vừa là cơ hội để các quốc gia như Việt Nam đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và tận dụng các cơ hội hợp tác thương mại, đầu tư mới.
Báo cáo cũng chỉ ra xu thế đầu tư cho khu vực năng lượng tái tạo chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng đầu tư trực tiếp trên thế giới. Bên cạnh đó là những yêu cầu trong thương mại và đầu tư quốc tế về các tín chỉ sản xuất xanh, chuyển dịch năng lượng, năng lượng công bằng, biên giới carbon (của EU) đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải đáp ứng…
Hơn nữa, giữa cung và cầu năng lượng Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại cũng như trong tương lai đang mất cân đối nếu chúng ta chỉ dựa vào các nguồn năng lượng truyền thống, đặc biệt năng lượng hoá thạch như than đá, dầu… Những nguồn năng lượng này sẽ dần cạn kiệt, khó đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng năng lượng ngày càng lớn.
Nghiên cứu thực tế tại Việt Nam cho thấy, từ năm 2020 chúng ta đã phải nhập khẩu năng lượng để đáp ứng nhu cầu đặc biệt nhu cầu phát triển công nghiệp, giao thông tại Việt Nam. Trong khi đó, nguồn năng lượng tái tạo của Việt Nam được đánh giá rất tiềm năng, trong nhóm tăng trưởng mạnh nhất khu vực Asean nhất là điện mặt trời.
Tuy nhiên, báo cáo chỉ ra những thách thức chuyển dịch năng lượng tái tạo tại Việt Nam, đó là sự chưa hoàn toàn sẵn sàng chuyển dịch năng lượng cả ở hạ tầng, nguồn nhân lực, thể chế.
Những bất cập về mặt chính sách, những yếu tố không đồng nhất về quan điểm, sự trục lợi chính sách ở một số dự án nhất định khiến cho các chính sách hỗ trợ (đặc biệt cơ chế giá FIT) dừng lại từ năm 2020 đến nay khiến cho việc đầu tư vào năng lượng tái tạo cũng “dừng”.
Bên cạnh đó, có sự “ngập ngừng”, không rõ ràng về mặt chính sách đối với các nguồn điện không tập trung như nguồn điện mái nhà của người dân, trong khu công nghiệp.
Nghiên cứu nhấn mạnh đến những rào cản chuyển dịch năng lượng tái tạo tại Việt Nam, như thiếu các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật cấp phép điện lực. Các rào cản về đầu tư: hạn chế trong huy động vốn, thời gian hoàn thành dự án và thu hồi vốn dài, thiếu chắc chắn trong ưu đãi thuế và kém hấp dẫn của giá điện. Dữ liệu không đầy đủ về các nguồn năng lượng tái tạo…
Để đẩy mạnh chuyển dịch năng lượng, báo cáo cho rằng việc cần có những chính sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió, điện sinh khối… là vô cùng quan trọng. Trong đó, đẩy mạnh cả về chính sách và thị trường sẽ hỗ trợ cho phát triển các nguồn năng lượng mới, bù đắp nhu cầu thiếu hụt năng lượng trong tương lai của Việt Nam.
Ông Việt cũng nhấn mạnh rằng những chính sách hỗ trợ của Nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong giảm các chi phí đầu tư đối với nguồn năng lượng đòi hỏi đầu tư công nghệ mới như lưới điện thông minh, pin tích điện.




Biến động giá nhiên liệu đặt doanh nghiệp xăng dầu trước yêu cầu cân đối vốn nhập hàng, hàng tồn kho và lịch thanh toán. Sự kết nối giữa tín dụng và quản trị dòng tiền trở thành điểm tựa giúp doanh nghiệp chủ động duy trì nhịp kinh doanh.
Diễn đàn “Phát triển công nghiệp dầu khí Việt Nam: Đảm bảo tăng trưởng bền vững” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy – Vietnam Economic Times tổ chức sẽ diễn ra chiều 29/10/2026 tại Trung tâm hội nghị BMC, tầng 11, Tòa nhà V.E.T Building, 98 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt để ngành nông nghiệp và môi trường nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng. Tuy nhiên, sản xuất còn phân tán, công nghệ bảo quản, chế biến sâu hạn chế, dữ liệu chưa liên thông đang cản trở tăng trưởng. Tháo gỡ những điểm nghẽn này đòi hỏi tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nhà trường...
Mỗi sáng kiến dù nhỏ, nếu được áp dụng hiệu quả và được chia sẻ, nhân rộng, sẽ tạo nên nguồn lực đổi mới mạnh mẽ…
Làn sóng điều tra phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp pháp trên toàn cầu đang gia tăng mạnh mẽ. Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Canada, Ấn Độ, Mexico và Australia đang đứng trước nguy cơ cao bị đưa vào diện điều tra, theo dõi hoặc áp thuế...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Thảo luận Luật Nhà ở (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội cho rằng, đối với các dự án nhà ở cho thuê do Nhà nước đầu tư để dẫn dắt thị trường thì cần yêu cầu công khai đầy đủ cấu phần giá thành gồm chi phí đất, xây dựng, tài chính, quản lý, vận hành, bảo trì và các khoản chi phí hợp pháp khác. Việc công khai này giúp hình thành mặt bằng tham chiếu đáng tin cậy cho thị trường...