
Nghị định 56 được ban hảnh trong bối cảnh quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và các đối tác phát triển có nhiều thay đổi, đặc biệt sau khi Việt Nam tốt nghiệp các khoản vay ODA với các điều kiện vay ưu đãi của Ngân hàng Thế giới (2018) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) (2019)… Đến nay, sau hơn 1 năm triển khai, Nghị định này đã bộc lộ một số bất cập ảnh hưởng tới công tác quản lý và sử dụng vốn ODA.
Trên cơ sở tổng kết ý kiến của các Bộ ngành và địa phương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thừa nhận hiện nay, công tác quản lý và sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi đang có nhiều bất cập liên quan đến thể chế, quy trình, thủ tục và pháp luật hiện hành.
Thứ nhất, việc hoàn thành quy trình, thủ tục từ bước đề xuất dự án đến khi ký hiệp định mất nhiều thời gian. Tại mỗi bước, phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và chính sách của nhà tài trợ, trong khi đó hệ thống pháp luật liên quan đến nguồn vốn này không đồng bộ, nhiều cơ quan, nhiều cấp tham gia trong quá trình ra quyết định dẫn đến việc hoàn thành quy trình, thủ tục ở từng bước mất nhiều thời gian. “Thông thường, để có thể thực hiện một dự án phải mất từ 2-3 năm để hoàn tất các thủ tục chuẩn bị đầu tư”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận định.
Thứ hai, chưa có hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương phân biệt rõ chi đầu tư và chi thường xuyên trong các dự án vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài trong quá trình thực hiện Chỉ thị số 18/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Thứ ba, Nghị định số 56 quy định gia hạn, điều chỉnh, bổ sung đối với các điều ước quốc tế, thỏa thuận cụ thể về vốn ODA, vốn vay ưu đãi được thực hiện sau khi chủ trương đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Những thay đổi như gia hạn thời gian thực hiện dự án, tương ứng với đó là gia hạn giải ngân các hiệp định phải thực hiện thành 02 quy trình nối tiếp nhưng đều do Bộ Tài chính xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định, dẫn tới kéo dài thời gian thực hiện, chồng chéo về thủ tục.
Thứ tư, theo Nghị định số 56, tất cả các nội dung trong Quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư đều phải thực hiện hồ sơ, quy trình, thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư như ban đầu với quy trình, thủ tục phức tạp. Điều này gây khó khăn trong quá trình điều chỉnh chương trình, dự án trong quá trình triển khai thực hiện.
Thứ năm, việc doanh nghiệp nhà nước vay lại 100% vốn vay ODA, vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài trước đây thực hiện theo quy định tại số 16/2016/NĐCP và Nghị định số 132/2018/NĐ-CP của Chính phủ, nay các khoản vay này không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật đầu tư công nên Nghị định số 56 không quy định nội dung này, dẫn đến việc doanh nghiệp nhà nước vay lại 100% vốn vay ODA, vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài không có quy định về quy trình, thủ tục, đặc biệt việc điều chỉnh Quyết định chủ trương đầu tư của các dự án sử dụng vốn vay ODA, vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài không thực hiện được.
Trên cơ sở đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng việc xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 56 của Chính phủ về quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài là cần thiết để khắc phục các hạn chế, bất cập nêu trên.
Nghị định mới dự kiến gồm 10 Chương, 100 Điều và 10 Phụ lục. Trong đó, Nghị định sẽ bổ sung các văn bản pháp lý liên quan ban hành trong thời gian gần đây (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường) và những văn bản pháp luật liên quan đến các dự án cho doanh nghiệp vay lại 100% vốn ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ (Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư theo phương thức hợp tác công tư, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp).
Bên cạnh việc bổ sung, điều chỉnh một số quy định liên quan tới quyết định chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư chương trình, dự án sử dụng vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi; văn kiện dự án hỗ trợ kỹ thuật, phi dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại… Nghị định mới còn bổ sung chương riêng về doanh nghiệp nhà nước sử dụng vốn vay ODA, vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài.
Theo đó, doanh nghiệp nhà nước vay lại 100% vốn vay ODA, vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài để đầu tư, bao gồm cả đầu tư PPP vào các chương trình, dự án đầu tư thuộc lĩnh vực ưu tiên theo quy định, phù hợp với ngành, nghề kinh doanh trong quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
25 dự án trong các lĩnh vực hạ tầng khu công nghiệp, cảng biển, logistics, đô thị, nghỉ dưỡng và công nghiệp chế biến... tại Nghệ An với tổng vốn hơn 110.450 tỷ đồng vừa được trao chấp thuận chủ trương đầu tư và chứng nhận đầu tư...
Sau một thời gian đưa vào vận hành, hệ thống kiosk check-in sinh trắc học tại Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài ghi nhận khoảng 3.000-4.000 lượt hành khách sử dụng mỗi ngày, góp phần rút ngắn thời gian làm thủ tục và giảm áp lực tại các khung giờ cao điểm...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng thống nhất phương án trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Khu công nghệ cao Hưng Yên, đồng thời giao UBND tỉnh Hưng Yên ban hành Quy chế hoạt động của khu nhằm bảo đảm đúng quy định pháp luật và đẩy nhanh tiến độ triển khai...
Sáng 31/7, Hội nghị Châu Á của Hiệp hội Kinh tế lượng khu vực Đông Á và Đông Nam Á năm 2026 (AMES 2026) khai mạc tại Hà Nội. Sự kiện do Hiệp hội Kinh tế lượng (Econometric Society), AVSE Global và Trường Đại học Thương mại phối hợp tổ chức...
Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa ban hành Nghị quyết số 09/2026/UBTVQH16 quy định quy chế lập, thẩm tra, quyết định kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia, kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách nhà nước, dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước hằng năm...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.