Chi tiêu quốc phòng của Ukraine tăng 20% trong năm 2025, lên 84,1 tỷ USD. Khoản chi này tương đương 40% GDP, mức gánh nặng quốc phòng cao nhất mà SIPRI từng ghi nhận đối với một quốc gia trong thời kỳ hiện đại.
Trong khi đó, Nga chi 190 tỷ USD cho quốc phòng, tăng 5,9% so với năm trước. Xét về giá trị tuyệt đối, ngân sách quốc phòng của Nga lớn gấp khoảng 2,2 lần Ukraine, nhưng chỉ tương đương 7,5% GDP nước này.
Sự khác biệt cho thấy số tiền chi cho quốc phòng chưa phản ánh đầy đủ mức độ ảnh hưởng của chiến tranh đối với mỗi nền kinh tế. Nga bỏ ra nhiều tiền hơn, nhưng Ukraine phải dành một phần lớn hơn rất nhiều nguồn lực kinh tế cho quốc phòng.
Khoản chi quốc phòng của Ukraine trong năm 2025 tương đương 40% tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ mà nền kinh tế nước này tạo ra. Tỷ lệ này cao gấp 16 lần mức trung bình toàn cầu là 2,5% GDP và gấp 20 lần mức chuẩn 2% mà Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đặt ra cho các thành viên.
Chi tiêu quốc phòng cũng chiếm hơn một nửa tổng chi tiêu công của Ukraine. Điều này cho thấy phần lớn ngân sách quốc gia đang được ưu tiên cho cuộc chiến, tạo sức ép lớn lên nguồn lực dành cho các lĩnh vực dân sự như y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng và an sinh xã hội.
Gánh nặng của Ukraine càng lớn khi nền kinh tế nước này có quy mô nhỏ hơn nhiều so với Nga và chịu thiệt hại trực tiếp từ chiến tranh. Hoạt động sản xuất bị gián đoạn, nhiều công trình cơ sở hạ tầng bị phá hủy, trong khi một bộ phận lực lượng lao động phải sơ tán hoặc tham gia quân đội.
Vì vậy, dù số tiền Ukraine chi cho quốc phòng chưa bằng một nửa Nga, khoản chi này lại chiếm tỷ trọng lớn hơn rất nhiều trong nền kinh tế. Nếu tính theo tỷ trọng GDP, gánh nặng quốc phòng của Ukraine cao gấp 5,3 lần Nga.
Trong khi đó, Nga chi 190 tỷ USD cho quốc phòng trong năm ngoái, cao hơn đáng kể so với Ukraine. Số tiền này tương đương khoảng 20% tổng chi ngân sách liên bang, cho thấy quốc phòng tiếp tục là một trong những ưu tiên lớn nhất của Moscow.
Do nền kinh tế có quy mô lớn hơn, dù chi nhiều tiền hơn Ukraine, ngân sách quốc phòng của Nga chỉ tương đương 7,5% GDP. Tỷ lệ này vẫn cao hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu và mục tiêu của NATO, nhưng chưa bằng 1/5 mức 40% của Ukraine.
Tốc độ tăng chi tiêu quốc phòng của Nga cũng đã chậm lại rõ rệt. Sau khi tăng 56,9% trong năm 2024, mức tăng năm 2025 giảm còn 5,9%. Điều này cho thấy Nga vẫn tiếp tục mở rộng ngân sách quốc phòng, nhưng với tốc độ thấp hơn nhiều so với giai đoạn tăng mạnh trước đó.
Nhìn chung, hai nước chịu sức ép kinh tế từ chiến tranh ở mức độ khác nhau. Nga chi nhiều tiền hơn nhờ có nền kinh tế lớn hơn, còn Ukraine dù chi ít hơn nhưng phải dành một phần lớn hơn nhiều nguồn lực quốc gia cho quốc phòng.




Trong tuần qua, các nỗ lực ngoại giao nhằm mở cửa eo biển Hormuz vẫn dậm chân tại chỗ, khiến giá dầu tăng mạnh trở lại...
Trong bối cảnh AI tạo sinh có thể nhanh chóng cung cấp câu trả lời cho hầu hết mọi vấn đề, vai trò của trường đại học đang được đặt trước một câu hỏi mới: Nếu máy móc có thể cung cấp kiến thức, nhà trường sẽ mang lại giá trị gì cho người học...
Đầu tháng này, Mỹ và Nhật Bản đã có bước đi hiếm thấy khi phối hợp can thiệp để chặn đà lao dốc của đồng yên, qua đó không chỉ ổn định đồng tiền Nhật Bản mà còn phát đi một thông điệp lớn hơn tới thị trường tài chính châu Á…
Trong báo cáo mang tên “Gian lận chuyển tải quy mô lớn” mới công bố gần, Nhà Trắng cho rằng Trung Quốc đã đưa hàng hóa qua những quốc gia và vùng lãnh thổ chịu thuế quan Mỹ thấp hơn, sau đó mới xuất sang Mỹ...
Danh sách những hãng hàng không có vốn hóa lớn nhất thế giới gồm nhiều mô hình kinh doanh khác nhau, từ các hãng truyền thống sở hữu mạng lưới bay toàn cầu đến những hãng siêu tiết kiệm…
Chiều 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tổ chức Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”.
Trong nhiều năm, khi nói đến tăng trưởng kinh tế, Việt Nam thường đặt trọng tâm vào ba động lực truyền thống: xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, dư địa tăng trưởng của các động lực cũ đang dần thu hẹp, buộc Việt Nam phải tìm kiếm những ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao hơn, ít phụ thuộc vào tài nguyên và có khả năng tạo ra nguồn thu ngoại tệ bền vững.