Biến đổi khí hậu không còn là nguy cơ trong tương lai mà đã trở thành một thực tế hiện hữu, gây ra những tác động ngày càng nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã phải hứng chịu hàng loạt thiên tai khốc liệt và dị thường, từ những cơn bão có cường độ kỷ lục, các đợt lũ lụt lịch sử, cho đến tình trạng hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn ngày càng gay gắt, gây ra những tổn thất to lớn cả về kinh tế và phi kinh tế.
Theo báo cáo “Tăng cường sự sẵn sàng của Việt Nam trong giải quyết tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu” do các cơ quan phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) vừa công bố, biến đổi khí hậu đang gây ra những tổn thất và thiệt hại ngày càng nghiêm trọng tại Việt Nam, vượt xa khả năng thích ứng hiện tại và đe dọa các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội bền vững.
Một trong những phát hiện chính được báo cáo chỉ ra là tổn thất và thiệt hại thiên tai đang gia tăng ở mức độ báo động. Việt Nam đang phải đối mặt với các thiên tai có cường độ và tần suất ngày càng tăng. Chỉ riêng năm 2024, siêu bão Yagi đã gây thiệt hại kinh tế ước tính 91.622 tỷ đồng và làm 519 người chết và mất tích, vượt xa mức thiệt hại kỷ lục trước đó vào năm 2017 (là 60.027 tỷ đồng).
Năm 2025, một số thống kê ước tính, tổng thiệt hại kinh tế do thiên tai lên tới 100.000 tỷ đồng, mức cao nhất từ trước đến nay.
Ngoài ra, những năm khác cũng có thiệt hại lớn như năm 2016 (khoảng 39.726 tỷ đồng), năm 2020 (khoảng 39.962 tỷ đồng) và năm 2013 (khoảng 29.601 tỷ đồng). Ngược lại, những năm 2011, 2014, 2015, 2019 và 2023 có mức thấp hơn, với tổng thiệt hại dưới 10.000 tỷ đồng.
Nghiên cứu cũng chỉ ra những thiệt hại kinh tế do thiên tai tại Việt Nam chủ yếu bị chi phối bởi các hiện tượng khí hậu cực đoan có tính ngẫu nhiên và không tuyến tính.
Theo các báo cáo tổng kết công tác phòng chống thiên tai hàng năm của Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai giai đoạn 2014-2024, tổn thất và thiệt hại do thiên tai gây ra tại Việt Nam thể hiện sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng địa lý, phản ánh sự đa dạng về đặc điểm địa hình, mật độ dân cư và mức độ phát triển cơ sở hạ tầng từng khu vực.
Cụ thể, khu vực miền núi, đặc biệt là các vùng núi thuộc Tây Bắc, Đông Bắc, Trung Bộ và Tây Nguyên, thường xuyên phải hứng chịu các hiện tượng mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất. Trong khi đó, khu vực đồng bằng là các vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp, nhưng cũng là nơi dễ bị tổn thương trước các hiện tượng khí hậu cực đoan như mưa lớn, ngập úng, hạn hán và xâm nhập mặn. Còn khu vực ven biển là nơi chịu tác động thường xuyên và mạnh mẽ nhất từ các loại hình thiên tai như bão, nước dâng do bão, triều cường, sóng lớn, xâm nhập mặn và sạt lở bờ biển.
Tổn thất và thiệt hại do một số loại hình thiên tai điển hình như bão, lũ lụt, lũ quét và sạt lở đất, hạn hán và dịch bệnh được xem là loại hình thiên tai thường xuyên và gây tác động lớn nhất ở nước ta, gây tổn thất kinh tế đáng kể.
Các tổn thất và thiệt hại không chỉ giới hạn ở kinh tế trực tiếp mà còn bao gồm các tổn thất phi kinh tế nghiêm trọng như mất đa dạng sinh học, xói mòn di sản văn hóa, suy giảm sức khỏe cộng đồng và các tác động tiêu cực đến an sinh xã hội.
Bên cạnh đó, vấn đề tổn thất và thiệt hại đã được đề cập trong các văn bản chiến lược quan trọng như Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) cập nhật năm 2022 và Kế hoạch Quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu (NAP) cập nhật năm 2024. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn thiếu một định nghĩa thống nhất, một khuôn khổ pháp lý toàn diện và các hướng dẫn cụ thể để đánh giá, giám sát và báo cáo tổn thất và thiệt hại, đặc biệt là đối với các tổn thất phi kinh tế.
Đáng chú ý, báo cáo cũng chỉ rõ sự thiếu hụt nghiêm trọng về tài chính và các công cụ tài chính còn hạn chế. Nguồn tài chính để giải quyết tổn thất và thiệt hại hiện chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước và Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn chỉ bù đắp được khoảng 30% thiệt hại và không đủ để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng.
Sự tham gia của khu vực tư nhân còn hạn chế do nhận thức về rủi ro chưa cao và thiếu các cơ chế khuyến khích hiệu quả. Việt Nam cũng chưa tận dụng được các công cụ tài chính sáng tạo như bảo hiểm rủi ro thiên tai, trái phiếu tác động hay tài chính hỗn hợp.
Ngoài ra, việc thu thập dữ liệu về tổn thất và thiệt hại, đặc biệt là các tổn thất phi kinh tế, còn phân tán và chưa có hệ thống. Năng lực của đội ngũ cán bộ trong áp dụng các phương pháp đánh giá hiện đại còn hạn chế, gây khó khăn cho hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng và xây dựng các dự án tiếp cận nguồn tài chính quốc tế.
Các chuyên gia dự báo tổn thất và thiệt hại trong tương lai do thiên tai và biến đổi khí hậu tại Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào các kịch bản khí hậu mà còn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ định hướng phát triển kinh tế- xã hội, phân bố dân cư và tốc độ đô thị hóa. Nếu không được tích hợp đầy đủ yếu tố rủi ro khí hậu trong quá trình quy hoạch, tổn thất sẽ gia tăng đáng kể cả về quy mô, cường độ và phạm vi ảnh hưởng. Trong đó, các vùng đồng bằng, ven biển, khu công nghiệp trọng điểm và các đô thị lớn sẽ là những điểm nóng về rủi ro.
Biến đổi khí hậu sẽ là một trong các tác nhân làm giảm tăng trưởng của Việt Nam. Nếu không có các giải pháp thích ứng hiệu quả, khi nhiệt độ tăng 1,0oC và 1,5oC có thể gây tổn thất lần lượt khoảng 1,8% GDP và 4,5% GDP, thiệt hại kinh tế khoảng 4,3 tỷ USD trong 10 năm tới.
Trong bối cảnh quy hoạch tổng thể quốc gia đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và thu nhập cao vào năm 2045, biến đổi khí hậu có thể làm suy giảm tiềm năng hiện thực hóa các mục tiêu này nếu không có sự tích hợp phù hợp về vấn đề biến đổi khí hậu trong chính sách và đầu tư phát triển.
Để tăng cường sự sẵn sàng của Việt Nam trong giải quyết tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu phù hợp với tiến trình đàm phán quốc tế và nâng cao năng lực thể chế cũng như phương pháp tiếp cận tài chính trong nước, báo cáo đề xuất 3 giải pháp trọng tâm trong đó có hoàn thiện khung chính sách và thể chế; nâng cao năng lực giám sát và đánh giá; đa dạng hóa và tăng cường huy động tài chính.
Để đa dạng hóa và tăng cường huy động tài chính, báo cáo nhấn mạnh việc phát triển các công cụ tài chính sáng tạo: Thí điểm và nhân rộng các sản phẩm tài chính như bảo hiểm tham số, trái phiếu thiên tai, cơ chế tài chính hỗn hợp và các quỹ đoàn kết để huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân và giảm áp lực cho ngân sách nhà nước.
Báo cáo cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư tư nhân: Ban hành các chính sách khuyến khích (ưu đãi thuế, bảo lãnh tín dụng) để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào hạ tầng chống chịu và các giải pháp thích ứng.
Bên cạnh đó, chủ động tiếp cận các nguồn tài chính quốc tế: Nâng cao năng lực cho các cơ quan đầu mối quốc gia và địa phương để xây dựng các đề xuất dự án chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn của các quỹ quốc tế như Quỹ Khí hậu Xanh (GCF) và đặc biệt là Quỹ Ứng phó với tổn thất và thiệt hại (FRLD).




Khoảng 750.000 người dân tại Quảng Trị được kỳ vọng sẽ hưởng lợi trực tiếp và gián tiếp từ Dự án Phát triển hạ tầng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu có tổng vốn đầu tư hơn 2.900 tỷ đồng, dự kiến triển khai trong giai đoạn 2027 - 2030.
Một nghiên cứu mới của Đài quan sát Nam Âu (ESO) cảnh báo kế hoạch phóng khoảng 1,7 triệu vệ tinh trong những năm tới có thể gây ra tác động chưa từng có đối với hoạt động quan sát thiên văn. Nếu không có giới hạn phù hợp, bầu trời đêm - "phòng thí nghiệm tự nhiên" của ngành thiên văn học - có nguy cơ bị che phủ bởi các vệt sáng nhân tạo…
HĐND TP.Hồ Chí Minh vừa ban hành Nghị quyết quy định mức thu phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác 18 loại khoáng sản trên địa bàn, trong đó loại khoáng sản mức thu cao nhất là 90.000 đồng/m3...
Việt Nam đang đẩy mạnh hoàn thiện chính sách và khung kỹ thuật nhằm thúc đẩy chuyển đổi xanh trong lĩnh vực giao thông vận tải, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Với sự hỗ trợ của Chính phủ Đức, dự án NDC-TIA II sẽ góp phần hoàn thiện thể chế, thúc đẩy điện khí hóa phương tiện và phát triển hệ sinh thái giao thông phát thải thấp...
Diễn đàn Phát triển Khu Công nghiệp Việt Nam được tổ chức trong bối cảnh việc định hướng phát triển các khu công nghiệp có ý nghĩa quan trọng thu hút đầu tư, góp phần định hình mô hình tăng trưởng mới, nâng cao năng suất, năng lực đổi mới sáng tạo và vị thế của Việt Nam trong các chuỗi giá trị toàn cầu.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Diễn đàn Phát triển Khu Công nghiệp Việt Nam được tổ chức trong bối cảnh việc định hướng phát triển các khu công nghiệp có ý nghĩa quan trọng thu hút đầu tư, góp phần định hình mô hình tăng trưởng mới, nâng cao năng suất, năng lực đổi mới sáng tạo và vị thế của Việt Nam trong các chuỗi giá trị toàn cầu.