Thưa ông, Việt Nam hiện đang xây dựng và chuẩn bị vận hành phát triển thị trường carbon trong nước dự kiến thí điểm từ cuối năm 2025. Thời gian qua, Việt Nam đã có những chương trình dự án hợp tác song phương như Cơ chế tín chỉ chung (JCM) với Nhật Bản. Những cơ chế này sẽ hỗ trợ, tạo điều kiện gì cho Việt Nam trong giảm phát thải, phát triển bền vững, tiến tới mục tiêu Net Zero vào năm 2050?
Việt Nam đã và đang chuẩn bị các điều kiện về pháp lý, hạ tầng, công nghệ, tài chính và nhân lực để phát triển thị trường carbon trong nước. Từ Nghị định số 06/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn đã quy định chi tiết Điều 139 của Luật Bảo vệ môi trường về tổ chức phát triển thị trường carbon. Đề án thành lập và phát triển thị trường carbon cũng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 232/QĐ-TTg ngày 24/1/2025.
Mới đây, tại Nghị định 119/2025/NĐ-CP ngày 9/6/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 06/2022 đã quy định rõ hơn việc tăng cường kiểm kê khí nhà kính, giảm phát thải, tạo tín chỉ carbon, tham gia thị trường carbon, trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính.
Với các cơ sở có phát thải khí nhà kính lớn trong lĩnh vực sản xuất sắt thép, xi măng và nhiệt điện sẽ phân bổ hạn ngạch và các cơ sở này sẽ tham gia vào thị trường carbon trong nước ngay trong giai đoạn đầu. Dự thảo Nghị định về sàn giao dịch carbon đã được Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các bộ liên quan xây dựng mới được trình Chính phủ để xem xét thông qua.
Tôi cho rằng việc ban hành các văn bản này là những cơ sở pháp lý quan trọng để Việt Nam có thể sớm vận hành thí điểm thị trường carbon trong nước.
Thời gian qua, Việt Nam đã tham gia các cơ chế song phương như cơ chế JCM. Đây là sáng kiến của Chính phủ Nhật Bản đề xuất, thúc đẩy hợp tác song phương với các quốc gia đang phát triển nhằm thúc đẩy đầu tư, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ và cơ sở hạ tầng phát thải carbon thấp tại các quốc gia, trong đó có Việt Nam, trên cơ sở hỗ trợ về tài chính và công nghệ từ Chính phủ Nhật Bản.
Cơ chế JCM được ký kết và triển khai tại Việt Nam từ năm 2013. Trong giai đoạn 2013- 2020, Chính phủ Nhật Bản triển khai hợp tác Cơ chế JCM với 17 quốc gia và đến nay đã có 30 quốc gia tham gia với tổng số 256 dự án đã và đang tham gia và có 106 phương pháp luận tạo tín chỉ carbon.
Trong thời gian qua, triển khai Cơ chế JCM tại Việt Nam, Ủy ban Hỗn hợp hai nước đã được thành lập, phê duyệt 15 phương pháp luận tạo tín chỉ carbon, đăng ký 14 dự án. Các dự án chủ yếu tập trung vào các dự án tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả, cải tiến trang thiết bị để hiệu quả năng lượng cao hơn. Đến nay, 35.000 tín chỉ carbon đã được cấp, với tổng mức cam kết hỗ trợ tài chính từ Chính phủ Nhật Bản khoảng 35 triệu USD.
Giai đoạn từ năm 2021 trở đi, các quốc gia tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu và Thỏa thuận Paris đều phải có nghĩa vụ cắt giảm phát thải khí nhà kính theo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC). Việt Nam cũng như Nhật Bản sẽ phải thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính quốc gia. Các dự án JCM được triển khai nhằm thúc đẩy chuyển giao các công nghệ phát thải thấp và đầu tư xanh của Nhật Bản vào Việt Nam. Các dự án này sẽ tạo tín chỉ carbon.
Liên quan đến phân bổ tín chỉ cho các bên, Ủy ban hỗn hợp hai nước triển khai cơ chế sẽ dành một phần tín chỉ cho Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản, một phần cho doanh nghiệp Nhật Bản và một phần cho đối tác doanh nghiệp Việt Nam.
Việt Nam đang phát triển thị trường carbon nên đòi hỏi nhu cầu về hàng hóa. Bên cạnh hạn ngạch phát thải khí nhà kính mà Việt Nam sẽ phân bổ được trao đổi trên sàn giao dịch, tín chỉ carbon cũng là một hàng hóa để các doanh nghiệp có phát thải vượt quá hạn mức cho phép mua để bù đắp. Trong hạn ngạch cho phép, nếu doanh nghiệp tăng sản xuất, chưa kịp cải tiến công nghệ giảm phát thải sẽ phải mua hạn ngạch phát thải của các doanh nghiệp khác hoặc mua tín chỉ carbon để bù đắp.
Những tín chỉ được giữ lại cho Chính phủ Việt Nam có thể được đóng góp vào NDC. Tín chỉ được phân bổ cho đối tác doanh nghiệp Việt Nam cũng có thể đóng góp cho NDC hoặc bù đắp cho các doanh nghiệp Việt Nam vượt quá hạn mức phát thải khí nhà kính mà Chính phủ cho phép.
Thời gian tới, các dự án theo cơ chế JCM sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường carbon, đồng thời hỗ trợ thực hiện mục tiêu giảm phát thải quốc gia theo NDC.
Ông đánh giá thế nào về kết quả và hiệu quả, giá trị của các dự án hợp tác hỗ trợ của Nhật Bản với Việt Nam được triển khai theo Cơ chế tín chỉ chung?
Trong giai đoạn 2013-2020, Việt Nam tham gia thí điểm cơ chế JCM để làm quen và tích lũy kinh nghiệm. Các dự án nhận hỗ trợ từ Chính phủ Nhật Bản chuyển giao công nghệ giảm phát thải, công nghệ xanh, thân thiện môi trường. Việt Nam và Nhật Bản cũng đang tham gia các các cơ chế khác nhau, góp phần bổ trợ cho nhau như Sáng kiến cộng đồng châu Á phát thải ròng bằng 0 (AZEC). Các dự án tham gia AZEC là các dự án chuyển đổi năng lượng, ứng dụng công nghệ phát thải thấp...
Hiện nay, Nhật Bản đề xuất triển khai các dự án đa mục tiêu, các dự án chuyển giao các công nghệ tiên tiến hơn và các dự án sử dụng công nghệ đốt kèm trong các nhà máy nhiệt điện, điện sinh khối, phát triển các dự án năng lượng tái tạo cũng đang được đầu tư mạnh mẽ theo chủ trương chuyển đổi năng lượng công bằng… Các dự án góp phần mang lại hiệu quả chung cho chuyển đổi xanh và phát thải thấp của Việt Nam, hướng tới mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050.
Vậy, trong gian đoạn mới từ nay đến năm 2030, cơ chế hợp tác JCM giữa Nhật Bản và Việt Nam sẽ tập trung, ưu tiên vào những dự án thuộc lĩnh vực nào để giảm phát thải, thưa ông?
Trước đây, cơ chế JCM tập trung chủ yếu vào các dự án đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng, nâng cao hiệu quả năng lượng. Hiện nay, Nhật Bản đang đề xuất mở rộng sang các dự án năng suất cao phát thải thấp trong sản xuất nông nghiệp, dự án lĩnh vực lâm nghiệp, các dự án năng lượng gió, dự án giao thông xanh…
Hai bên sẽ xem xét mở rộng phạm vi đầu tư sang các dự án giảm phát thải khí nhà kính khó hơn, phức tạp hơn, cần đầu tư tài chính và công nghệ cao như các dự án về thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCS/CCUS), các dự án phát triển điện gió ngoài khơi…
Các dự án về thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon là lĩnh vực mới và khó, Việt Nam sẽ khuyến khích các nước có trình độ công nghệ cao chuyển giao, thu hút các doanh nghiệp FDI đầu tư vào phát triển kinh tế, chuyển giao công nghệ, tạo thêm nguồn tài chính, đồng thời góp phần giảm phát thải, bảo vệ môi trường.
Theo ông, đâu là những lợi ích, cơ hội lớn nhất khi các doanh nghiệp tham gia vào các dự án theo cơ chế JCM?
Việc các doanh nghiệp Việt Nam tham gia phối hợp cùng triển khai dự án JCM sẽ có cơ hội được hỗ trợ công nghệ, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm, nâng cao năng lực, tiếp cận được các kỹ năng, phương pháp của các doanh nghiệp Nhật Bản để nâng cao năng lực trong nước.
Vậy, cần những giải pháp nào để thu hút, thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia vào cơ chế JCM ở Việt Nam, đóng góp cho mục tiêu giảm phát thải, phát triển xanh?
Hiện nay, tham gia cơ chế JCM chủ yếu là các doanh nghiệp Nhật Bản. Chính phủ Nhật Bản đầu tư kinh phí nên có nhiều doanh nghiệp Nhật Bản tham gia, có nắm bắt được thông tin và có công nghệ hiện đại hơn.
Việt Nam chưa có doanh nghiệp chủ động tiếp cận nguồn kinh phí JCM từ Nhật Bản. Do đó, thông qua các diễn đàn về vấn đề này sẽ tạo cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thông tin, hợp tác, kết nối và chủ động tham gia vào cơ chế JCM, mạnh dạn đầu tư giảm phát thải. Nếu đáp ứng được tiêu chí của cơ chế này, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có cơ hội nhận được sự hỗ trợ.
Cùng với đó, khuyến khích các tổ chức tư vấn trong nước có năng lực tham gia thẩm định và xây dựng các phương pháp tạo tín chỉ carbon. Hiện nay, Việt Nam rất cần những tổ chức trong nước có đủ điều kiện, năng lực tư vấn, đo lường, thẩm định; xây dựng được phương pháp luận tạo tín chỉ carbon, hướng dẫn các doanh nghiệp triển khai giảm phát thải khí nhà kính.
Đây là vấn đề mới mẻ với Việt Nam và chúng ta đang trong quá trình phát triển loại hình này. Những cơ chế chính sách đã được ban hành trong thời gian qua sẽ là cơ sở, tạo điều kiện khuyến khích để hình thành và phát triển đội ngũ này ở trong nước.
VnEconomy 29/07/2025 07:00
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 30-2025 phát hành ngày 28/07/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-30.html
“Khi làm chủ công nghệ, chúng ta có quyền tự quyết định vận mệnh phát triển sản phẩm của mình mà không phụ thuộc vào bên ngoài. Báo chí là huyết mạch thông tin của quốc gia. Nếu lõi công nghệ quản trị nội dung và dữ liệu của các cơ quan báo chí phụ thuộc vào các nền tảng nước ngoài, đó sẽ là rủi ro lớn đối với an ninh thông tin và chủ quyền số quốc gia”. Đó là khẳng định của ông Đỗ Chiến Thắng, Chủ tịch Hemera Media, trong cuộc trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy nhân dịp tạp chí tròn 35 năm phát triển.
Ra mắt đúng dịp kỷ niệm 35 năm thành lập Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, Askonomy thế hệ mới (3.5) không chỉ là một sản phẩm công nghệ mà còn là kết quả của mô hình hợp tác giữa báo chí và doanh nghiệp AI, trong đó tòa soạn đóng vai trò như một “phòng lab sống”, còn đơn vị công nghệ đảm nhiệm việc phát triển và hoàn thiện sản phẩm.
Diễn đàn cấp cao Chuyển đổi số Việt Nam - châu Á 2026 (Vietnam - Asia DX Summit 2026) đã ứng dụng Asko Meet, nền tảng họp và hội thảo thông minh tích hợp AI thuộc hệ sinh thái Askonomy, để chuyển giọng nói thành văn bản và phiên dịch trực tiếp đa ngôn ngữ cho đại biểu tham dự. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy bên lề sự kiện, ông An Ngọc Thao, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam (VINASA), cho rằng các nền tảng họp thông minh như Asko Meet không chỉ hỗ trợ tổ chức sự kiện mà còn kéo dài vòng đời tri thức của hội nghị, giúp nội dung và tri thức tiếp tục được lưu giữ, khai thác và lan tỏa sau khi sự kiện kết thúc.
Cùng nhìn lại hành trình 35 năm qua của tổ hợp cơ quan báo chí Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy – Vietnam Economic Times, những người làm báo chúng tôi càng thêm tự hào về “ngôi nhà chung” và đặc biệt xúc động về sự gắn bó keo sơn của các thế hệ trong tòa soạn. Từ những ngày “3 không” năm 1991 (không tiền, không trụ sở tòa soạn, không bộ máy), dưới sự dẫn dắt của người sáng lập - GS. Đào Nguyên Cát - cùng thế hệ lãnh đạo cùng thời và kế tiếp đã đưa Thời báo Kinh tế Việt Nam, nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam, vươn mình trở thành tổ hợp truyền thông kinh tế hiện đại, có sức ảnh hưởng tầm khu vực và quốc tế.
Suốt 35 năm đồng hành cùng dòng chảy kinh tế đất nước và các doanh nghiệp, sự tin cậy từ những dòng dữ liệu xác thực đã định hình nên vị thế vững chắc của Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy. Tuy nhiên trong kỷ nguyên mà thông tin không còn khoảng cách và công nghệ đang tái định hình xã hội, dòng chảy tri thức ấy không thể là những con số đứng yên...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Điểm nghẽn lớn nhất để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 10%/năm trong 20 năm tới, theo GS. TS Nguyễn Thiện Nhân, chính là tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.