EPR – chính sách Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất đã được luật hóa trong Luật Bảo vệ môi trường 2020 và cụ thể hóa bằng các nghị định, thông tư hướng dẫn không chỉ đánh dấu bước tiến trong tư duy quản lý môi trường, mà còn đặt ra yêu cầu chuyển dịch căn bản đối với cộng đồng doanh nghiệp. Mục tiêu của chính sách này nhằm giảm phát, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn; đồng thời tạo nguồn lực tài chính cho hoạt động tái chế.
Để hỗ trợ doanh nghiệp hiểu đúng, làm đúng và tận dụng EPR như một lợi thế cạnh tranh, ngày 12/3/2026, Công ty CP Sáng tạo xanh Việt Nam GREEN IN tổ chức tọa đàm trực tuyến với chủ đề “Biến nghĩa vụ pháp lý EPR thành lợi thế cạnh tranh ESG”.
Theo quy định, 6 sản phẩm, hàng hóa bắt buộc phải thực hiện tái chế gồm: bao bì, săm lốp, ắc quy, dầu nhớt, sản phẩm điện- điện tử, phương tiện giao thông.
Cụ thể, tỷ lệ tái chế bắt buộc với bao bì từ 10- 22%; ắc quy là 8 và 12%; dầu nhớt 15%; săm lốp 5% và sản phẩm điện tử từ 3-15%. Đây là phần trăm khối lượng sản phẩm, bao bì phải được thu gom và tái chế theo quy cách so với tổng khối lượng sản phẩm, bao bì được đưa ra thị trường trong năm.
Quy định cũng loại trừ các sản phẩm xuất khẩu, tạm nhập tái xuất hoặc vụ phục học tập nghiên cứu thử nghiệm; doanh thu từ các sản phẩm chịu sự điều chỉnh dưới 30 tỷ đồng/năm; bao bì được doanh nghiệp tự thu hồi để tái sử dụng với tỷ lệ cao hơn tỷ lệ tái chế bắt buộc.
Chuyên gia chính sách phát triển bền vững GREEN IN Trương Tử Long cho biết theo lộ trình, từ 01/01/2024, các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu săm lốp, pin, ắc quy, dầu nhớt và bao bì của một số sản phẩm sẽ phải thực hiện trách nhiệm tái chế theo tỷ lệ, quy cách bắt buộc.
Các nhà sản xuất nhập khẩu sản phẩm điện, điện tử phải thực hiện trách nhiệm tái chế từ ngày 01/01/2025 và nhà sản xuất nhập khẩu phương tiện giao thông (ô tô, xe máy) phải thực hiện trách nhiệm tái chế từ ngày 01/01/2027.
Cũng theo quy định, trước ngày 31/3 hàng năm, các đơn vị phải đăng ký kế hoạch tái chế đối với sản phẩm, bao bì đã đưa ra thị trường của năm trước; báo cáo kết quả tái chế của năm trước, đồng thời kê khai số tiền đóng góp (với trường hợp lựa chọn phương án đóng góp tài chính). Trước ngày 20/4 hàng năm, các đơn vị phải nộp đầy đủ khoản đóng góp tài chính vào Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam theo số tiền đã kê khai.
“EPR không chỉ là nghĩa vụ môi trường mà là công cụ thúc đẩy sự chuyển dịch sang mô hình sản xuất bền vững”.
Từ góc nhìn pháp lý, Luật sư Long thông tin, với những đơn vị vi phạm nghĩa vụ kê khai và báo cáo, không đăng ký kế hoạch tái chế, không nộp báo cáo hoặc nộp chậm, kê khai sai thông tin sản phẩm…, Nghị định 45/2022/NĐ-CP quy định rõ mức phạt sẽ từ 300 triệu đến 2 tỷ đồng.
Với các trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tái chế, không đạt tỷ lệ tái chế bắt buộc theo quy định, kê khai sai để giảm nghĩa vụ tái chế sẽ bị phạt từ 900 triệu đến 2 tỷ đồng.
Các trường hợp vi phạm nghĩa vụ đóng góp tài chính hỗ trợ tái chế, chậm nộp hoặc không nộp khoản đóng góp vào Quỹ bảo vệ môi trường sẽ bị phạt từ 1-2 tỷ đồng. Mức phạt đến 2 tỷ đồng cũng áp dụng với các trường hợp gian lận trong hoạt động tái chế, hợp tác với đơn vị tái chế không đủ điều kiện, sử dụng kết quả tái chế không hợp lệ hoặc trùng lặp…
Các chuyên gia GREEN IN nhấn mạnh rằng việc tuân thủ EPR không chỉ là nghĩa vụ mà còn giúp các doanh nghiệp giảm rủi ro pháp lý lý và tài chính; đáp ứng yêu cầu ESG của thị trường quốc tế (như: EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc…). Đặc biệt việc thực hiện điều này sẽ giúp tăng cường uy tín, cũng cố thương hiệu bền vững cho doanh nghiệp; thúc đẩy ứng dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong chuỗi cung ứng
Chuyên gia nêu rõ, để tuân thủ EPR, các doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức tự tái chế; thuê hoặc ủy quyền cho bên khác thực hiện nghĩa vụ hoặc đóng góp tài chính vào quỹ bảo vệ môi trường.
Phân tích những ưu điểm và hạn chế để phù hợp với các loại hình doanh nghiệp, các chuyên gia chỉ rõ: với hình thức tự tổ chức tái chế, các đơn vị có thể chủ động kiểm soát toàn bộ quy trình tái chế và dữ liệu báo cáo; có thể tối ưu chi phí trong dài hạn nếu khối lượng bao bì lớn; đồng thời tăng cường uy tín và giá trị thương hiệu gắn với cam kết ESG.
Tuy nhiên hình thức này có chi phí đầu tư ban đầu lớn (công nghệ, hạ tầng, logistics); yêu cầu hệ thống thu gom và quản lý phức tạp và phải đáp ứng nhiều điều kiện để được phép thực hiện tái chế. Vì vậy, hình thức này phù hợp với các doanh nghiệp sản xuất đầu ngành và công ty đa quốc gia có quy mô lớn; các doanh nghiệp có sản lượng bao bì lớn, ổn định; doanh nghiệp có sẵn chuỗi cung ứng hệ thống thu hồi sản phẩm…
Với giải pháp thuê hoặc ủy quyền cho đơn vị tái chế phù hợp với doanh nghiệp quy mô trung bình– lớn; doanh nghiệp có khối lượng bao bì đáng kể nhưng không muốn đầu tư tái chế; doanh nghiệp cần giải pháp linh hoạt.
Đối với hình thức lựa chọn đóng góp tài chính vào Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam, sẽ phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs); doanh nghiệp nhập khẩu quy mô nhỏ; doanh nghiệp không đủ điều kiện về con người và cơ sở hạ tầng để tổ chức hệ thống tái chế. Tuy nhiên, hình thức này không tạo động lực để tự cải tiến trong khâu thiết kế, sản xuất tuần hoàn; ít đóng góp trực tiếp vào chiến lược ESG của doanh nghiệp.
EPR không đơn thuần là một nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hành trình đồng hành cùng Chính phủ hướng đến Net Zero, mà còn là lộ trình chuyển đổi cần thiết để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế trong bối cảnh các yêu cầu chuyển đổi xanh ngày càng khắt khe.
Tuy nhiên, tại hội thảo mới mới đây, khi bàn về vấn đề này, ông Vũ Thái Trường, Trưởng Ban Khí hậu, Môi trường và Năng lượng UNDP Việt Nam, nhấn mạnh: “Thực tiễn triển khai cho thấy vẫn còn nhiều vướng mắc".
Theo ông Trường, "chúng ta vẫn thấy khoảng cách giữa thiết kế chính sách và thực tiễn thị trường tái chế tại Việt Nam; năng lực giám sát và minh bạch dữ liệu liên quan đến EPR vẫn đang trong quá trình hoàn thiện; mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp chưa đồng đều; và cơ chế thực hiện vẫn cần thêm điều kiện để phát huy đầy đủ vai trò.”
Đại diện Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết sẽ tiếp tục rà soát, đánh giá toàn diện quá trình thực hiện chính sách EPR để đề xuất các phương án hoàn thiện phù hợp.
Khoản vay xanh hợp vốn quốc tế trị giá 105 triệu USD do HSBC thu xếp sẽ giúp Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) triển khai hệ thống pin lưu trữ năng lượng tại 70 trạm biến áp hiện hữu, nhằm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu phụ tải và hạn chế nguy cơ quá tải lưới điện...
Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026, các chuyên gia cho rằng sự kết hợp công nghệ với quản trị dữ liệu có thể giúp nông nghiệp Việt Nam nâng cao năng suất, tiết giảm chi phí và cải thiện vị thế trong chuỗi giá trị…
Trong khi thế giới đang “khát” pin lưu trữ, Trung Quốc lại bất ngờ tạm dừng xét duyệt hàng loạt nhà máy mới vì lo ngại nguy cơ dư thừa công suất. Liệu ngành pin có lặp lại vết xe của điện mặt trời khi đầu tư ồ ạt, giá lao dốc và lợi nhuận bị bào mòn?
Diễn đàn “Phát triển công nghiệp dầu khí Việt Nam: Đảm bảo tăng trưởng bền vững” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy – Vietnam Economic Times tổ chức sẽ diễn ra chiều 29/10/2026 tại Trung tâm hội nghị BMC, tầng 11, Tòa nhà V.E.T Building, 98 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội.
Các công nghệ thu giữ và lưu trữ CO₂ (CCS), cũng như thu giữ, sử dụng và lưu trữ CO₂ (CCUS) đang được xem là một trong những giải pháp tiềm năng, mở ra thêm hướng tiếp cận trong quá trình giảm phát thải, đặc biệt đối với các ngành công nghiệp khó cắt giảm phát thải. Theo đánh giá, Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng lưu trữ CO₂ tốt nhất ở khu vực Đông Nam Á với tiềm năng lưu trữ lên đến 71 tỷ tấn CO2, tập trung chủ yếu ở 3 khu vực địa chất...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Thảo luận Luật Nhà ở (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội cho rằng, đối với các dự án nhà ở cho thuê do Nhà nước đầu tư để dẫn dắt thị trường thì cần yêu cầu công khai đầy đủ cấu phần giá thành gồm chi phí đất, xây dựng, tài chính, quản lý, vận hành, bảo trì và các khoản chi phí hợp pháp khác. Việc công khai này giúp hình thành mặt bằng tham chiếu đáng tin cậy cho thị trường...