Chuyển đổi xanh: Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
HHằng Anh
Chọn cỡ chữ
Chuyển đổi xanh, phát triển xanh vừa là yêu cầu tất yếu, vừa là cơ hội để đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế...
Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng cao, đồng thời thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Ảnh: Hòa Linh
Việt Nam là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương trước
biến đổi khí hậu. Nước biển dâng, xâm nhập mặn, lũ lụt, hạn hán và các hiện tượng
cực đoan khác đang gia tăng, đe dọa sinh kế, an ninh lương thực, năng lượng,
tăng trưởng kinh tế và hệ sinh thái.
Biến đổi khí hậu không còn là một vấn đề môi trường đơn lẻ,
mà đang ngày càng liên quan đến các vấn đề về tăng trưởng kinh tế, an ninh năng
lượng, an ninh lương thực, thương mại, chuỗi cung ứng và ổn định tài chính.
TĂNG TRƯỞNG XANH, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀ LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC
Biến đổi khí hậu và quá trình chuyển đổi đang đặt ra những
yêu cầu cấp thiết đối với tất cả các quốc gia. Thực tiễn cho thấy biến đổi khí
hậu diễn biến nhanh, mạnh hơn so với dự báo, tác động trực tiếp đến phát triển
kinh tế xã hội của nhiều nước.
Quá trình chuyển đổi xanh trên thế giới đang diễn ra sâu rộng;
nhiều quốc gia đang đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo, nâng cao hiệu quả sử
dụng năng lượng, đầu tư vào lưới điện, lưu trữ và các công nghệ phát thải thấp;
phát triển kinh tế tuần hoàn và thị trường carbon.
Ngoài ra, các yêu cầu về phát thải carbon, tiêu chuẩn môi
trường trong chuỗi sản xuất ngày càng được tích hợp vào chính sách thương mại
và đầu tư.
Tại Đối thoại Quy Nhơn về khí hậu và chuyển đổi diễn ra cuối tuần qua, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên chỉ rõ: là nền kinh tế đang phát triển có độ mở cao, tham gia sâu vào thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu, đồng thời chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, Việt Nam nhận thức rõ rằng chuyển đổi xanh vừa là yêu cầu tất yếu, vừa là cơ hội để đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Tăng trưởng xanh và phát triển bền vững là lựa chọn chiến lược, không thể đảo ngược.
Tuy nhiên, Việt Nam đang đối mặt với những thách thức vừa phải
thực hiện các mục tiêu khí hậu, vừa phải bảo đảm tăng trưởng nhanh, an ninh
năng lượng và nâng cao đời sống của người dân.
Đặc biệt hiện nay, các yêu cầu của thị trường quốc tế đang
thay đổi nhanh. Điển hình như định giá carbon ngày càng được mở rộng; Liên minh
châu Âu đã chính thức triển khai Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) từ
năm 2026. Điều đó cho thấy khả năng đo lường, quản lý và giảm hàm lượng carbon
của sản phẩm đang dần trở thành một yếu tố của năng lực cạnh tranh quốc tế…
Không những thế, trong quá trình chuyển đổi xanh, thích ứng
với biến đổi khí hậu đòi hỏi nguồn lực lớn trong khi khả năng tiếp cận tài
chính, công nghệ và nguồn lực của các quốc gia còn rất khác nhau. Vì vậy, hợp
tác quốc tế cần tập trung nhiều hơn vào huy động và kết hợp hiệu quả nguồn lực
công, tài chính ưu đãi và dòng vốn tư nhân cho chuyển đổi xanh.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam chủ trương kiên định mục tiêu
phát triển của đất nước, xác định tăng trưởng xanh và phát triển bền vững là lựa
chọn chiến lược, không thể đảo ngược; lấy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần
hoàn, kinh tế tri thức, kinh tế số, gắn với khoa học công nghệ và đổi mới sáng
tạo, chuyển đổi số là trụ cột để phát triển nhanh và bền vững; coi ứng phó với
biến đổi khí hậu là điều kiện, nền tảng cho chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng
tăng trưởng, năng suất, sức cạnh tranh của quốc gia.
Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với
biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới đã nhấn mạnh quan điểm “bảo vệ môi trường và
ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt trong tổng thể tư duy, tầm nhìn mới,
ở vị trí trung tâm trong các quyết định phát triển, là điều kiện, nền tảng cho
chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất, sức cạnh tranh, là
một trong những động lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Bảo đảm nguồn lực
tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ, tốc độ tăng trưởng và quy mô nền kinh tế”.
Kết luận cũng nêu rõ quy hoạch, định hướng phát triển trong
giới hạn sinh thái, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường. Chuyển từ tư
duy "đối phó thụ động" sang tư duy "ứng phó chủ động", từ
quản lý hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và theo mức độ rủi
ro, từ quản lý phân tán theo ngành, địa giới hành chính sang quản trị tổng hợp,
liên ngành, liên vùng.
Cùng với đó chủ động phòng ngừa, kiểm soát chặt chẽ, cảnh
báo từ sớm, từ xa nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường; tập trung
khắc phục, xử lý các vấn đề bức xúc về môi trường. Bảo tồn đa dạng sinh học và
phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên. Đẩy nhanh chuyển đổi xanh, phát triển kinh
tế tuần hoàn, nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và chủ động
phòng, chống thiên tai.
Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết số 208/NQ-CP về Chương
trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 75-KL/TW của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi
khí hậu trong thời kỳ mới với 9 giải pháp trọng tâm.
NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG TRONG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, CHUYỂN
ĐỔI XANH
Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu
tăng trưởng cao, đồng thời thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng "0"
vào năm 2050. Vì vậy, vấn đề không phải là lựa chọn giữa tăng trưởng và hành động
khí hậu, mà là làm thế nào để quá trình chuyển đổi tạo ra những động lực mới
cho phát triển.
Tại đối thoại Quy Nhơn, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh yêu cầu kết hợp hài hòa
giữa mục tiêu phát triển, điều kiện thực hiện, nguồn lực, công nghệ và lợi ích
của người dân. Theo đó, hành động khí hậu phải gắn với mục tiêu tăng trưởng,
phát triển.
Đối với các quốc gia đang phát triển, giải pháp khí hậu không thể tách rời yêu cầu tăng trưởng, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước và ổn định kinh tế xã hội. Quá trình chuyển đổi chỉ có thể diễn ra bền vững khi không làm thu hẹp không gian phát triển mà phải tạo thêm cơ hội phát triển mới cho các quốc gia và người dân.
Cùng với đó, quá trình chuyển đổi phải bảo đảm công bằng,
phù hợp với điều kiện của từng quốc gia. Mỗi nước có trình độ phát triển, cơ cấu
kinh tế, khả năng tiếp cận công nghệ và nguồn lực cũng như mức độ dễ bị tổn
thương khác nhau.
Phó Thủ tướng cũng cho rằng thành công không chỉ được đo bằng
lượng phát thải giảm hay nguồn vốn huy động được mà còn thể hiện ở việc người
dân an toàn hơn trước thiên tai, có cơ hội tiếp cận kỹ năng và việc làm mới,
doanh nghiệp có điều kiện đổi mới, các nhóm dễ bị tổn thương được tham gia và
hưởng lợi từ quá trình phát triển.
Để hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược trong ứng phó với biến
đổi khí hậu và chuyển đổi xanh, Thứ trưởng Lê Trọng
Yên nêu các định hướng quan trọng mà Việt Nam tập trung.
Theo đó, Việt Nam sẽ tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính
sách, pháp luật về thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính,
bảo vệ tầng ozone và phát triển thị trường carbon; tập trung xây dựng Luật Biến
đổi khí hậu trình Quốc hội khóa XVI; tăng cường công tác kiểm kê khí nhà kính,
đo đạc, báo cáo và thẩm định theo chuẩn quốc tế để nâng cao tính minh bạch của
các hành động khí hậu.
Nhấn mạnh chuyển đổi xanh phải gắn liền với chuyển đổi số, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết Việt
Nam sẽ xây dựng cơ chế đặc thù để làm chủ các công nghệ chiến lược trong kinh tế
tuần hoàn, công nghiệp, xây dựng và nông nghiệp, góp phần tạo ra các mô hình sản
xuất và tiêu dùng bền vững hơn; đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng và sức
cạnh tranh của nền kinh tế.
Cùng với đó đa dạng hóa nguồn lực cho ứng phó với biến đổi khí hậu.
Phát huy hiệu quả vai trò dẫn dắt của ngân sách nhà nước; huy động, phát huy hiệu
quả các nguồn lực xã hội, nguồn vốn quốc tế, các quỹ khí hậu toàn cầu, nguồn
tài chính xanh, đầu tư xanh, nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, nguồn vốn vay
ưu đãi và các nguồn lực hợp pháp khắc phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xanh,
phát thải carbon thấp và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Chủ động tham gia các
cơ chế hợp tác quốc tế về tài chính khí hậu, chuyển giao công nghệ, phát triển
thị trường carbon và thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu.
Một định hướng quan trọng khác là bảo đảm an ninh năng lượng phải gắn với quá trình chuyển
dịch năng lượng theo hướng xanh, bền vững; phát triển các nguồn năng lượng tái
tạo và năng lượng mới phù hợp; sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; từng bước
giảm cường độ phát thải của nền kinh tế.
Việt Nam sẽ chủ động thích ứng, ưu tiên đầu tư
hạ tầng chống chịu cao với thiên tai, rủi ro khí hậu; triển khai các giải pháp
thích ứng đặc thù theo vùng, ưu tiên các giải pháp dựa vào tự nhiên, hệ sinh
thái cho các khu vực nguy cơ cao; phát huy năng lực hấp thụ carbon của hệ sinh
thái tự nhiên để tạo sinh kế bền vững.
Thứ trưởng cũng nhấn mạnh việc nâng tầm hợp tác và ngoại giao khí hậu. Việt Nam sẽ
tiếp tục chủ động tham gia định hình các sáng kiến, thỏa thuận và cơ chế hợp
tác khu vực, toàn cầu về khí hậu nhằm huy động, tiếp cận và chuyển giao công
nghệ xanh, tiên tiến từ các đối tác phát triển.
Dự án GoRice được triển khai tại Cần Thơ, An Giang và Vĩnh Long giai đoạn 2025-2030, hướng tới hỗ trợ 48.200 người hưởng lợi trực tiếp, giảm khoảng 748.000 tấn phát thải carbon và thúc đẩy chuỗi giá trị lúa gạo bền vững, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long...
Các quốc gia Đông Nam Á cần thêm nhiều năm để củng cố hạ tầng năng lượng, xây dựng dự trữ nhiên liệu khẩn cấp và tăng cường kết nối điện xuyên biên giới nhằm ứng phó với những gián đoạn nguồn cung trong tương lai…
Nghị định 396/2026/NĐ-CP được ban hành nhằm làm rõ quy trình phân cấp cấp tài khoản hệ thống tín chỉ carbon quốc gia và bổ sung thủ tục cho các dự án carbon rừng, có hiệu lực từ ngày 12/12/2026...
Việc Cơ quan Quản lý Thị trường Năng lượng Singapore chấp thuận có điều kiện cho dự án xuất khẩu điện tái tạo trị giá 10 tỷ USD đã chính thức khởi động mô hình hợp tác năng lượng ba bên chưa từng có tiền lệ giữa Việt Nam, Malaysia và Singapore...
Công ty Cổ phần Năng lượng VinEnergo chính thức đưa vào vận hành hệ thống điện mặt trời mái nhà kết hợp pin lưu trữ năng lượng (BESS) để cung cấp điện sạch cho nhà máy sản xuất xe VinFast, nhà máy sản xuất pin VinES và liên doanh sản xuất pin V-G tại Khu kinh tế Vũng Áng (Hà Tĩnh).
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Thảo luận Luật Nhà ở (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội cho rằng, đối với các dự án nhà ở cho thuê do Nhà nước đầu tư để dẫn dắt thị trường thì cần yêu cầu công khai đầy đủ cấu phần giá thành gồm chi phí đất, xây dựng, tài chính, quản lý, vận hành, bảo trì và các khoản chi phí hợp pháp khác. Việc công khai này giúp hình thành mặt bằng tham chiếu đáng tin cậy cho thị trường...
Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...
Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...