Tại hội thảo “Áp lực CBAM, ESG và tiêu chuẩn xanh toàn cầu – Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp khu công nghiệp” diễn ra ngày 26/8/2026, ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nhấn mạnh đến yêu cầu chuyển đổi xanh đang tác động trực tiếp và toàn diện đến khả năng tham gia chuỗi cung ứng cũng như tiếp cận thị trường quốc tế của doanh nghiệp.
Các yêu cầu về phát thải carbon, sử dụng năng lượng, truy xuất dữ liệu, trách nhiệm môi trường - xã hội và quản trị (ESG) không còn là định hướng mang tính hình thức, mà đã trở thành điều kiện bắt buộc để tiếp cận nguồn vốn và đối tác toàn cầu.
“Đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp – nơi tập trung phần lớn hoạt động sản xuất và tiêu thụ năng lượng sức ép này càng rõ rệt. Nếu triển khai thiếu lộ trình, chuyển đổi xanh có thể trở thành áp lực chi phí; nhưng nếu chuẩn bị sớm và thực hiện đúng hướng, đây sẽ là cơ hội để tối ưu vận hành, tiết kiệm năng lượng, nâng cao năng suất và củng cố uy tín", ông Hoàng Quang Phòng nhận định.
Đồng quan điểm, TS Nguyễn Minh Thảo, Trưởng Ban Nghiên cứu Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, khẳng định xanh hóa là lựa chọn tất yếu.
Phân tích bối cảnh quốc tế, TS Thảo cho biết Thỏa thuận Xanh Châu Âu (European Green Deal) triển khai từ 2020 đã lan tỏa mạnh mẽ ra toàn cầu, kéo theo hàng loạt quy định như Thiết kế sinh thái cho sản phẩm bền vững (ESPR), quy định bao bì chất thải hay Chỉ thị thẩm định chuỗi cung ứng bền vững.
“Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) chính thức bước vào giai đoạn thực thi từ ngày 1/1/2026 đối với 6 nhóm mặt hàng nguy cơ phát thải cao gồm: sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, điện và hydro. Tuy nhiên, lộ trình đến năm 2027 sẽ rà soát toàn diện, đến năm 2030 mở rộng ra toàn bộ các lĩnh vực thuộc hệ thống giao dịch phát thải EU và đến năm 2034 sẽ vận hành toàn bộ. Doanh nghiệp chỉ còn khoảng 8 năm để chuẩn bị cho một làn sóng xanh hóa bao trùm mọi mặt hàng xuất khẩu”, TS cảnh báo.
Không chỉ dừng lại ở EU, áp lực tuân thủ đang lan rộng ra các thị trường lớn khác. Ông Nguyễn Bá Hải, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ xúc tiến thương mại và đầu tư, Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) cho biết qua chuyến công tác tại Hàn Quốc vào tháng 7/2026, cơ quan quản lý nhận thấy Hàn Quốc đã luật hóa các tiêu chuẩn xanh và ESG.
Dự kiến từ năm 2028, các tập đoàn đa quốc gia lớn như Samsung, LG, Hyundai, Kia sẽ bắt buộc áp dụng khắt khe và yêu cầu toàn bộ chuỗi cung ứng tuân thủ. Lộ trình này sẽ nhanh chóng tác động đến các nhà máy tại khu công nghiệp Việt Nam từ năm 2031. Ông Hải cũng nhắc đến bài học của Bangladesh khi quốc gia này đã đi trước Việt Nam 10 năm trong việc thích ứng dệt may xanh, tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội khi thị trường biến động.
Phân tích ở góc độ ESG, ông Nguyễn Quang Huân, Chủ tịch HĐQT Công ty Halcom, Việt Nam chỉ ra một thực trạng đáng lo ngại. Đó là, hiện chỉ có khoảng 30% doanh nghiệp Việt Nam hiểu và sẵn sàng áp dụng ESG, còn lại đa số doanh nghiệp nhỏ và vừa mới dừng ở mức đối phó, dẫn đến hiện tượng “tẩy xanh” hoặc “nín lặng xanh” (làm tốt nhưng che giấu do lo ngại rủi ro pháp lý).
Lãnh đạo của Halcom cũng lưu ý đến 4 khoảng trống cốt lõi, gồm: Chưa có khung thể chế thống nhất, chưa nội địa hóa được các tiêu chí ESG quốc gia; thiếu tiêu chí ESG đặc thù ngành như cho dệt may phải khác với ngành năng lượng hay nông nghiệp; hệ thống đo lường, giám sát chưa đồng bộ, thiếu công cụ kiểm chứng dữ liệu carbon và dòng tiền; hệ sinh thái hỗ trợ còn hạn chế.
Để hiện thực hóa lộ trình xanh cho doanh nghiệp khu công nghiệp, Chủ tịch Halcom Việt Nam kiến nghị Nhà nước sớm ban hành Khung ESG quốc gia, trước mắt tập trung xây dựng bộ tiêu chí cho 5 ngành mũi nhọn gồm: năng lượng, tài chính - ngân hàng, dệt may, gia dụng và cấp thoát nước, coi ESG là khâu trung gian biến các nguồn lực đầu vào thành tài chính bền vững.
Ở khía cạnh logistics, bà Phạm Thị Vân Anh, Giám đốc Kinh doanh miền Bắc, Công ty Cổ phần Hai Bốn Bảy (247Express), khẳng định một sản phẩm muốn đáp ứng tiêu chuẩn phát thải không thể chỉ đo lường tại cổng nhà máy mà phải được nhìn nhận xuyên suốt cả hành trình. Logistics đóng vai trò quan trọng qua việc tối ưu tuyến vận chuyển, nâng cao hiệu suất phương tiện và số hóa dữ liệu.
Đứng từ góc độ công nghệ, TS Đào Đình Khả, Chuyên gia tư vấn độc lập về chuyển đổi số, nhấn mạnh rằng dữ liệu CBAM thực chất là bài toán quản trị dữ liệu tích hợp. Dữ liệu carbon không thể đứng riêng lẻ mà phải kết nối chặt chẽ với dữ liệu sản xuất, năng lượng, nguyên liệu và tài chính. Chuyển đổi số tạo ra năng lực đo lường, giúp doanh nghiệp chứng minh kết quả xanh một cách minh bạch, hướng tới mô hình nhà máy thông minh.
Về hạ tầng năng lượng sạch trong khu công nghiệp, ông Phạm Hoàng Lương, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam, cho biết việc thông suốt cơ chế Mua bán điện trực tiếp (DPPA) là nút thắt quan trọng nhất giúp doanh nghiệp khu công nghiệp tiếp cận nguồn năng lượng sạch trực tiếp.
Ông Vũ Văn Hải, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Công nghệ Xanh Hùng Việt, giới thiệu giải pháp tổng thầu EPC điện mặt trời áp mái, mô hình mua bán điện DPPA 0 đồng vốn và hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS) công nghiệp giúp doanh nghiệp tối ưu chi phí tiền điện và cắt đỉnh phụ tải vận hành.
Các chuyên gia tại hội thảo thống nhất đề xuất lộ trình hành động 3 giai đoạn giúp doanh nghiệp khu công nghiệp chủ động chuyển đổi.
Trong ngắn hạn (1 – 2 năm): Bắt đầu ngay việc kiểm kê khí nhà kính (Scope 1, Scope 2), đào tạo nhân lực, chuẩn hóa hệ thống báo cáo MRV và triển khai điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu.
Trong trung hạn (3 – 5 năm): Xây dựng đánh giá dấu chân carbon sản phẩm, tham gia cơ chế DPPA, chuyển đổi nhiên liệu sạch và số hóa quy trình sản xuất.
Trong dài hạn (hướng tới 2030 – 2050): Đổi mới công nghệ sản xuất chuyên sâu, tuần hoàn nguyên vật liệu, liên kết cộng sinh công nghiệp trong khu công nghiệp sinh thái và hướng tới mục tiêu trung hòa carbon hoặc phát thải ròng bằng 0 (Net Zero).
Các diễn giả cũng kiến nghị Chính phủ sớm thành lập Ban chỉ đạo Quốc gia về chuyển đổi xanh để phối hợp liên ngành, đồng thời sớm hoàn thiện thể chế khu công nghiệp sinh thái, quy hoạch tài chính xanh để hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên mới.




Sử dụng hệ thống pin tích hợp trong cánh, máy bay E9X của công ty khởi nghiệp Hà Lan Elysian Aircraft được thiết kế để chở 90 hành khách, với tầm bay ban đầu 800 km và mục tiêu đạt 1.000 km. Dự kiến đi vào khai thác năm 2034, mẫu máy bay này được kỳ vọng góp phần giảm đáng kể lượng phát thải của ngành hàng không…
Góp ý kiến vào dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật; đồng thời làm rõ một số nội dung để luật vừa tạo động lực phát triển kinh tế biển, vừa bảo vệ môi trường, chủ quyền và lợi ích quốc gia, hướng mục tiêu phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh...
Theo lộ trình, Việt Nam thực hiện mục tiêu cắt giảm 67,5% lượng tiêu thụ cơ sở HCFC trong giai đoạn 2025-2029, tiến tới giảm 97,5% từ năm 2030 và loại trừ hoàn toàn vào năm 2040. Từ thực tế lượng thiết bị đang sử dụng HCFC-22 hiện nay với nhu cầu môi chất lạnh cho sửa chữa, bảo dưỡng vẫn còn lớn trong khi nguồn mới bị hạn chế đặt ra bài toán thu hồi, tái chế, tái sử dụng, quản lý môi chất theo vòng đời. Tính toán cho thấy Việt Nam sẽ thiếu hụt khoảng 1.000 tấn HCFC-22 vào năm 2030…
Nhấn mạnh tinh thần xuyên suốt trong việc sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu rõ việc cắt thủ tục nhưng không cắt trách nhiệm; nới tiền kiểm nhưng phải siết hậu kiểm; phân cấp nhưng không phân tán; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Nếu giảm tiền kiểm nhưng năng lực hậu kiểm không đáp ứng yêu cầu thì sẽ khó bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường...
Việt Nam đang hoàn thiện khung pháp lý và đẩy mạnh các giải pháp quản lý môi chất lạnh theo Nghị định thư Montreal và Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, hướng tới thu hồi, tái chế xuyên suốt vòng đời thiết bị, góp phần bảo vệ tầng ozone và giảm phát thải khí nhà kính...
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.