double-skinned crabsVietnamese crab exporter

Tín chỉ carbon: Thị trường tỷ USD và lớp tài sản đầu tư tiềm năng mới

Việt Nam được đánh giá sở hữu nhiều lợi thế, có thể tạo ra khoảng 103 triệu tín chỉ carbon vào năm 2050 từ các lĩnh vực như rừng, biển và nông nghiệp carbon thấp... Với tiềm năng "rừng vàng, biển bạc" cùng sự chuyển mình mạnh mẽ trong nông nghiệp carbon thấp và kinh tế tuần hoàn, Việt Nam đang nắm giữ cơ hội trở thành nguồn cung tín chỉ quan trọng trên bản đồ toàn cầu. Tín chỉ carbon đã trở thành một lớp tài sản đầu tư tiềm năng mới...

Với lợi thế sở hữu khoảng 1/3 giải pháp carbon dựa vào tự nhiên của thế giới, ASEAN có thể tạo ra tới 3.000 tỷ USD doanh thu. Ảnh minh họa
Với lợi thế sở hữu khoảng 1/3 giải pháp carbon dựa vào tự nhiên của thế giới, ASEAN có thể tạo ra tới 3.000 tỷ USD doanh thu. Ảnh minh họa

Thị trường carbon đóng vai trò then chốt trong mục tiêu phát thải ròng bằng 0 toàn cầu, đặc biệt với các ngành khó giảm phát thải. Hiện các cơ chế định giá carbon đã bao phủ khoảng 24% lượng phát thải toàn cầu và tạo ra hơn 100 tỷ USD doanh thu năm 2024, đồng thời được kỳ vọng có thể huy động 10–40 tỷ USD vào năm 2030 cho các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển.

CÁC QUỐC GIA DẪN ĐẦU THỊ TRƯỜNG TÍN CHỈ CARBON

Trên thị trường carbon toàn cầu hiện nay, Trung Quốc (CCER), Nhật Bản (J-Credit), Hàn Quốc (KOC), California (Compliance Offset) đóng vai trò là nhà phát hành tín chỉ trong nước quy mô lớn. Các nước này xây dựng hệ thống tín chỉ riêng, phát hành và quản lý nguồn cung trong phạm vi quốc gia/khu vực.

Trong khi đó, thị trường tiêu thụ tín chỉ hàng đầu là Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ với việc các tập đoàn lớn mua tín chỉ carbon tự nguyện để thực hiện cam kết trung hòa carbon và NetZero.

Theo báo cáo Wealth Management Vol.10 của SHS mới đây, Việt Nam cùng với Indonesia, Brazil, Kenya, Ấn Độ được đóng vai trò là những quốc gia cung ứng tín chỉ ra thị trường quốc tế khi tận dụng tiềm năng lớn từ rừng, đất đai và năng lượng tái tạo để phát triển dự án tín chỉ.

Các quốc gia châu Á và các nền kinh tế mới nổi ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn, không chỉ với tư cách là nguồn cung tín chỉ mà còn là những thị trường tiêu thụ và trung tâm giao dịch mới.
Các quốc gia châu Á và các nền kinh tế mới nổi ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn, không chỉ với tư cách là nguồn cung tín chỉ mà còn là những thị trường tiêu thụ và trung tâm giao dịch mới.

Đáng chú ý, nhiều quốc gia đồng thời đảm nhận nhiều vai trò cùng lúc. Hoa Kỳ vừa là nơi đặt trụ sở của các hệ thống đăng ký tín chỉ carbon lớn nhất thế giới (ACR, CAR), vừa là thị trường tiêu thụ tín chỉ tự nguyện hàng đầu thông qua các tập đoàn công nghệ.

Trung Quốc vừa là nhà phát hành tín chỉ CCER quy mô lớn nhất châu Á, vừa là thị trường tiêu thụ nội địa lớn cho tín chỉ CCER. Nhật Bản vừa vận hành cơ chế J-Credit trong nước, vừa triển khai Cơ chế Tín chỉ Chung (JCM) với 29 quốc gia đối tác nhằm nhập khẩu tín chỉ carbon chất lượng cao.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, bức tranh các quốc gia dẫn đầu thị trường tín chỉ carbon đang có sự chuyển dịch đáng kể. Các quốc gia châu Á và các nền kinh tế mới nổi ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn, không chỉ với tư cách là nguồn cung tín chỉ mà còn là những thị trường tiêu thụ và trung tâm giao dịch mới.

Sự trỗi dậy của Singapore như một trung tâm giao dịch tín chỉ carbon khu vực ASEAN, sự mở rộng nhanh chóng của cơ chế CCER tại Trung Quốc, và việc Indonesia vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon (IDXCarbon) là những minh chứng rõ nét cho xu hướng này.

Tại Đông Nam Á, theo Climate Watch, xét về khía cạnh phát thải, nông nghiệp và thiên nhiên, năng lượng và giao thông vận tải là những lĩnh vực đóng góp lớn nhất vào lượng phát thải khu vực (khoảng 65%).

Riêng Việt Nam có tỷ trọng phát thải đáng kể từ lĩnh vực năng lượng và công nghiệp, trong khi phát thải từ sử dụng đất và nông nghiệp vẫn chiếm vai trò quan trọng. Điều này cho thấy Việt Nam vừa chịu áp lực chuyển dịch năng lượng, vừa có cơ hội lớn từ phát triển năng lượng tái tạo, tín chỉ carbon rừng và nông nghiệp bền vững nếu tận dụng tốt quá trình chuyển đổi xanh.

VIỆT NAM CÓ THỂ TẠO RA TRĂM TRIỆU TÍN CHỈ CARBON NHỜ LỢI THẾ “RỪNG VÀNG, BIỂN BẠC”

Đánh giá về tiềm năng giảm phát thải dựa vào thiên nhiên theo thị trường, báo cáo cho biết với sự đa dạng sinh học phong phú và nguồn tài nguyên biển và đất liền rộng lớn, Đông Nam Á có thể tận dụng nhu cầu quốc tế đang tăng lên bằng cách đóng góp các khoản tín dụng trồng rừng và tránh phá rừng cho giao dịch carbon quốc tế và củng cố vai trò là nhà cung cấp tín dụng carbon dài hạn.

Theo đó, dẫn đầu là Indonesia (với 749,4 triệu tấn CO2e), trong khi 9 thị trường Đông Nam Á có tiềm năng tạo ra 1.267,5 triệu tín dụng carbon từ tài nguyên biển và đất liền vào năm 2050. Việt Nam dự kiến tạo ra 103 triệu tín chỉ carbon vào năm 2050.

Đối với ASEAN, phát triển thị trường carbon cần trở thành một trụ cột trong chiến lược kinh tế- môi trường khi khu vực vừa theo đuổi tăng trưởng mạnh mẽ vừa phải thực hiện cam kết khí hậu. Với lợi thế sở hữu khoảng 1/3 giải pháp carbon dựa vào tự nhiên của thế giới, ASEAN có thể tạo ra tới 3.000 tỷ USD doanh thu và 13,7 triệu việc làm xanh vào năm 2050 nếu mở rộng hiệu quả thị trường này.

Tiềm năng giảm phát thải dựa vào thiên nhiên các quốc gia ASEAN
Tiềm năng giảm phát thải dựa vào thiên nhiên các quốc gia ASEAN

Tuy nhiên, hiện thị trường carbon trong khu vực còn phân mảnh do khác biệt về khung pháp lý giữa các quốc gia, hạn chế giao dịch xuyên biên giới và thu hút đầu tư. Việc hài hòa hóa theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris, cùng các sáng kiến như ASEAN Common Carbon Framework, sẽ giúp tăng tính minh bạch, thanh khoản và thu hút dòng vốn quốc tế vào khu vực.

Đánh giá về cơ hội khai thác tiềm năng tài nguyên và dòng vốn khí hậu để tạo động lực tăng trưởng mới, báo cáo nêu rõ, ASEAN sở hữu lợi thế lớn về năng lượng tái tạo và các bể hấp thụ carbon tự nhiên như rừng, đất than bùn và hệ sinh thái ven biển.

Việc phát triển thị trường carbon chất lượng cao có thể chuyển hóa tiềm năng này thành dòng tài chính khí hậu quốc tế, tạo thêm nguồn thu lớn và hàng triệu việc làm xanh đến năm 2050. Đồng thời, cơ chế theo Điều 6 Thỏa thuận Paris và xu hướng CBAM toàn cầu mở ra cơ hội để ASEAN tham gia sâu hơn vào thương mại tín chỉ carbon và bảo vệ năng lực cạnh tranh xuất khẩu.

Tuy nhiên, thách thức đặt ra hiện nay đó là sự thiếu đồng bộ về cơ chế định giá, tiêu chuẩn hạch toán và mức độ sẵn sàng giữa các quốc gia khiến thị trường carbon ASEAN còn rời rạc, hạn chế giao dịch xuyên biên giới và làm gia tăng rủi ro chính sách cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, khác biệt về cơ cấu năng lượng và năng lực giảm phát thải khiến việc xây dựng một hệ thống carbon chung, tương thích và minh bạch trên toàn khu vực trở nên phức tạp hơn.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn bản lề trong quá trình hình thành và phát triển thị trường carbon. Hàng loạt dấu mốc chính sách quan trọng đã được thiết lập, từ Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi đến Nghị định 06/2022/NĐ-CP và Nghị định 119/2025/NĐ-CP. Những văn bản này thể hiện cam kết chính thức của Chính phủ trong việc xây dựng thị trường carbon quốc gia, phù hợp với mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 cũng như các nghĩa vụ quốc tế theo Hiệp định Paris.

Cụ thể, theo Nghị định 119/2025/NĐ-CP, thị trường carbon nội địa giai đoạn đầu sẽ cho phép sử dụng tín chỉ carbon để bù trừ tối đa 30% nghĩa vụ giảm phát thải. Cùng với đó, thị trường carbon tự nguyện (VCM) tiếp tục đóng vai trò cầu nối quan trọng, tạo dư địa cho dòng vốn đầu tư, đổi mới sáng tạo và triển khai dự án- đặc biệt trong các lĩnh vực như nông nghiệp, nơi tiềm năng giảm phát thải và hấp thụ carbon còn rất lớn.

Trong những năm qua, Việt Nam đã từng bước tiến tới việc thiết lập một thị trường carbon nội địa hoạt động hiệu quả, với các chính sách chuyển từ chiến lược khí hậu và tăng trưởng xanh tổng quát sang khung pháp lý chi tiết và các biện pháp thực hiện ở cấp ngành. Các chính văn bản, sách ban hành thời gian qua đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho vận hành thí điểm thị trường carbon ở Việt Nam, trước khi vận hành chính thức từ năm 2029.

Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lịch sử trên đường đua Net Zero 2050. Tín chỉ carbon đã trở thành một lớp tài sản đầu tư tiềm năng mới. Với tiềm năng "rừng vàng, biển bạc" cùng sự chuyển mình mạnh mẽ trong nông nghiệp carbon thấp và kinh tế tuần hoàn, Việt Nam đang nắm giữ cơ hội trở thành nguồn cung tín chỉ quan trọng trên bản đồ toàn cầu.

Theo Báo cáo tình trạng thị trường carbon 2026 của Liên minh hành động carbon quốc tế (ICAP), hiện có 41 hệ thống ETS đang hoạt động trên toàn cầu, bao phủ khoảng 26% lượng phát thải khí nhà kính của thế giới. Hiện các nền kinh tế đang vận hành hệ thống giao dịch phát thải ETS chiếm khoảng 63% GDP toàn cầu và hơn một nửa dân số thế giới. 

Hà Lan: Máy bay điện E9X hướng tới chở 90 hành khách, bay 1.000 km

Sử dụng hệ thống pin tích hợp trong cánh, máy bay E9X của công ty khởi nghiệp Hà Lan Elysian Aircraft được thiết kế để chở 90 hành khách, với tầm bay ban đầu 800 km và mục tiêu đạt 1.000 km. Dự kiến đi vào khai thác năm 2034, mẫu máy bay này được kỳ vọng góp phần giảm đáng kể lượng phát thải của ngành hàng không…

Khơi thông nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế biển

Góp ý kiến vào dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật; đồng thời làm rõ một số nội dung để luật vừa tạo động lực phát triển kinh tế biển, vừa bảo vệ môi trường, chủ quyền và lợi ích quốc gia, hướng mục tiêu phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh...

Chuyển đổi xanh, giảm phát thải ngành lạnh, quản lý môi chất theo vòng đời

Theo lộ trình, Việt Nam thực hiện mục tiêu cắt giảm 67,5% lượng tiêu thụ cơ sở HCFC trong giai đoạn 2025-2029, tiến tới giảm 97,5% từ năm 2030 và loại trừ hoàn toàn vào năm 2040. Từ thực tế lượng thiết bị đang sử dụng HCFC-22 hiện nay với nhu cầu môi chất lạnh cho sửa chữa, bảo dưỡng vẫn còn lớn trong khi nguồn mới bị hạn chế đặt ra bài toán thu hồi, tái chế, tái sử dụng, quản lý môi chất theo vòng đời. Tính toán cho thấy Việt Nam sẽ thiếu hụt khoảng 1.000 tấn HCFC-22 vào năm 2030…

Cắt giảm thủ tục nhưng không cắt giảm trách nhiệm môi trường, nới tiền kiểm nhưng phải siết hậu kiểm

Nhấn mạnh tinh thần xuyên suốt trong việc sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu rõ việc cắt thủ tục nhưng không cắt trách nhiệm; nới tiền kiểm nhưng phải siết hậu kiểm; phân cấp nhưng không phân tán; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Nếu giảm tiền kiểm nhưng năng lực hậu kiểm không đáp ứng yêu cầu thì sẽ khó bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường...

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy