
Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa vừa tổ chức hội nghị tổng kết chương trình thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ (ERPA), nhằm đánh giá hiệu quả tài chính và môi trường từ hoạt động quản lý rừng bền vững một trong những nền tảng thúc đẩy kinh tế xanh tại địa phương.
Với tổng diện tích hơn 647.000 ha rừng tự nhiên, tỉnh Thanh Hóa đang sở hữu tiềm năng lớn về cung cấp tín chỉ carbon, trở thành một trong sáu địa phương đầu tiên được lựa chọn triển khai Nghị định số 107/2022/NĐ-CP về chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và quản lý tài chính thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ.
Theo báo cáo tại hội nghị, thông qua công tác rà soát, tỉnh đã xác định được hơn 393.000 ha rừng tự nhiên thuộc quyền quản lý của 39 đơn vị chủ rừng nằm trong diện được chi trả và hưởng lợi từ chương trình ERPA. Từ nguồn thu dự kiến khoảng 199,3 tỷ đồng/năm, Thanh Hóa đã giải ngân được 107,68 tỷ đồng, đạt 54,1% kế hoạch được duyệt. Khoản tài chính này được sử dụng để hỗ trợ công tác quản lý rừng, chi trả cho các tổ chức và cá nhân có tham gia bảo vệ rừng theo đúng quy định.
Tuy nhiên, một trong những điểm đáng lưu ý là tỷ lệ các chủ rừng hoàn thiện kế hoạch tài chính còn chưa cao. Mới có 27/39 đơn vị hoàn tất lập và trình kế hoạch năm với tổng kinh phí được duyệt là 22,85 tỷ đồng. Số tiền này đang được sử dụng chủ yếu vào các hoạt động duy trì bảo vệ rừng, đầu tư sinh kế bền vững và cải thiện hạ tầng cơ sở tại các khu dân cư nằm trong vùng hưởng lợi từ ERPA.
Đánh giá tại hội nghị cho thấy, sau 3 năm triển khai, chương trình ERPA bước đầu đã mang lại những kết quả tích cực, tạo thêm nguồn lực cho phát triển kinh tế xanh tại các vùng miền núi của Thanh Hóa. Đặc biệt, chương trình góp phần giảm thiểu các hành vi xâm hại rừng, thúc đẩy việc bảo vệ rừng hiệu quả hơn nhờ cơ chế tài chính rõ ràng và có tính khuyến khích.
Đối với cộng đồng dân cư sinh sống gần rừng đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa chương trình ERPA không chỉ hỗ trợ trực tiếp nguồn lực tài chính mà còn giúp tạo sinh kế ổn định, nâng cao nhận thức về vai trò của rừng trong phòng chống thiên tai và biến đổi khí hậu. Với các hộ gia đình tham gia bảo vệ rừng, ERPA trở thành một "nguồn thu xanh" có tính bền vững, đồng thời mang lại cơ hội tiếp cận với các dự án phát triển nông lâm kết hợp.
Đối với các đơn vị chủ rừng là tổ chức, khoản chi trả từ ERPA có vai trò như "trợ lực" bổ sung ngân sách bảo vệ rừng, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển độ che phủ rừng – một chỉ tiêu then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế bền vững và giảm phát thải của tỉnh Thanh Hóa.
Dù đạt được những kết quả tích cực, các đại biểu cũng thẳng thắn nhìn nhận còn nhiều tồn tại cần khắc phục. Một số chủ rừng đặc biệt là chính quyền cấp xã có tỷ lệ giải ngân thấp, việc áp dụng các kỹ thuật lâm sinh tiên tiến còn hạn chế. Đáng chú ý, phần lớn các hộ dân nhận khoán bảo vệ rừng sống tại vùng khó khăn, mức chi trả tính theo diện tích rừng còn thấp nên hiệu quả tác động trực tiếp tới đời sống chưa rõ nét.
Trước những hạn chế nêu trên, hội nghị đã thống nhất một số phương hướng, nhiệm vụ thời gian tới như: đẩy mạnh tập huấn kỹ thuật cho cộng đồng, cải thiện quy trình lập và phê duyệt kế hoạch tài chính cho các chủ rừng; tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cấp chính quyền và đơn vị kỹ thuật; đồng thời đề xuất điều chỉnh mức chi trả phù hợp để đảm bảo tính hấp dẫn và bền vững của chương trình.
Thông qua chương trình ERPA, Thanh Hóa đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế xanh gắn với bảo tồn thiên nhiên, ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao chất lượng sống cho người dân miền núi. Đây không chỉ là hướng đi phù hợp với xu thế quốc tế, mà còn góp phần khẳng định vai trò tiên phong của tỉnh trong các sáng kiến bảo vệ môi trường và phát triển bền vững khu vực Bắc Trung Bộ.
Các công nghệ thu giữ và lưu trữ CO₂ (CCS), cũng như thu giữ, sử dụng và lưu trữ CO₂ (CCUS) đang được xem là một trong những giải pháp tiềm năng, mở ra thêm hướng tiếp cận trong quá trình giảm phát thải, đặc biệt đối với các ngành công nghiệp khó cắt giảm phát thải. Theo đánh giá, Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng lưu trữ CO₂ tốt nhất ở khu vực Đông Nam Á với tiềm năng lưu trữ lên đến 71 tỷ tấn CO2, tập trung chủ yếu ở 3 khu vực địa chất...
Sự kiện thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng đang thúc đẩy dòng vốn ngoại tìm đến các mô hình kinh tế tuần hoàn và sản xuất thực chất, mở ra dư địa tăng trưởng bền vững cho các mắt xích trong chuỗi cung ứng...
Singapore triển khai ba chương trình mới nhằm xây dựng đội ngũ chuyên gia trong nước, nâng cao năng lực đánh giá công nghệ hạt nhân tiên tiến và chuẩn bị cơ sở để cân nhắc khả năng phát triển điện hạt nhân trong tương lai. Tuy nhiên, quốc gia này khẳng định chưa đưa ra quyết định về việc sử dụng năng lượng hạt nhân...
Đặc thù của hàng đóng gói sẵn là người tiêu dùng khó tự kiểm chứng lượng thực tế tại thời điểm mua hàng. Vì vậy, đại biểu Quốc hội cho rằng cần làm rõ ngay trong luật trách nhiệm của cơ sở sản xuất, nhập khẩu đối với việc bảo đảm lượng hàng hóa; đồng thời, cần xác lập nguyên tắc kiểm soát phù hợp với mức độ rủi ro và đặc điểm từng nhóm sản phẩm, tránh quy định chung chung khiến việc phát hiện, xử lý vi phạm thiếu căn cứ thực hiện...
Qua đánh giá hiện trạng thu thập số liệu phục vụ kiểm kê phát thải khí nhà kính trong 6 lĩnh vực (năng lượng; các quá trình công nghiệp; xây dựng; giao thông vận tải; nông, lâm nghiệp và sử dụng đất; chất thải), cơ quan thống kê chỉ rõ những khoảng trống số liệu. Trên cơ sở đó, cơ quan này đề xuất bổ sung 217 chỉ tiêu thống kê mới phục vụ kiểm kê khí nhà kính cùng lộ trình triển khai đến năm 2030...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Với thông điệp “Cà phê Hòa bình - Make coffee not war”, chuỗi hoạt động “Theo dấu chân 100 năm Cà phê Khe Sanh” kết nối những giá trị lịch sử, văn hóa và nông nghiệp. Đây cũng là dịp để Quảng Trị phát huy tiềm năng du lịch nông nghiệp, đưa câu chuyện cà phê trở thành điểm nhấn trong hành trình khám phá miền Tây của tỉnh.