double-skinned crabsVietnamese crab exporter

Lần đầu giải mã gene 1.000 giống lúa, nền tảng chọn tạo giống mới, thích ứng biến đổi khí hậu

Chương trình dự án nghiên cứu giải trình tự hệ gene 1.000 giống lúa Việt Nam hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu di truyền quy mô lớn, làm nền tảng cho bảo tồn nguồn gene bản địa và chọn tạo giống mới có chất lượng cao, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải…

Lần đầu tiên giải mã gen 1.000 giống lúa Việt. Ảnh minh hoạ. (Nguồn: Freepik)
Lần đầu tiên giải mã gen 1.000 giống lúa Việt. Ảnh minh hoạ. (Nguồn: Freepik)

Tại Hội thảo quốc tế về Ứng dụng công nghệ gene trong nông nghiệp (SAGA 2026) vừa diễn ra, các nhà khoa học Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn (VIBD), Trường Đại học VinUni giới thiệu dự án nghiên cứu VN1K-RICE- giải trình tự hệ gene 1.000 giống lúa Việt Nam (thuộc chương trình nghiên cứu AgriOmics-AI giai đoạn 2026–2030).

Theo các nhà nghiên cứu, tại Việt Nam, nhiều giống lúa truyền thống và lúa hoang vẫn được lưu giữ ở các ngân hàng gene, viện nghiên cứu và trường đại học như Trung tâm Tài nguyên thực vật, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long, Đại học Cần Thơ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Đây là nguồn vật liệu quý cho nghiên cứu và lai tạo giống.

Tuy nhiên, phần lớn các giống lúa này chưa được giải trình tự toàn bộ hệ gene, khiến việc xác định và khai thác những đặc tính di truyền có ích còn gặp nhiều hạn chế.

Để lấp khoảng trống này, dự án VN1K-RICE sẽ giải trình tự toàn bộ hệ gene của 1.000 mẫu lúa Việt Nam, bắt đầu từ nhóm 150 mẫu nòng cốt trước khi mở rộng quy mô. Bộ mẫu được lựa chọn để đại diện cho các hệ sinh thái canh tác khác nhau, gồm lúa nước, lúa nương, vùng ven biển nhiễm mặn và đất ngập triều, các mẫu lúa hoang.

Kết quả của VN1K-RICE dự kiến gồm dữ liệu hệ gene của 1.000 mẫu lúa, hệ gene tham chiếu chất lượng cao cho lúa truyền thống và dữ liệu về hoạt động của gene. Dự án sẽ đóng góp vào quá trình phát triển những giống lúa chất lượng cao, thích ứng tốt hơn với điều kiện khí hậu và hướng tới nền nông nghiệp phát thải thấp.

Mục tiêu quan trọng của dự án là xây dựng hệ gen tham chiếu cho các giống lúa truyền thống Việt Nam. Có thể hiểu đây là bộ dữ liệu chuẩn để các nhà khoa học đối chiếu khi phân tích hệ gene của những giống lúa khác. Khi có hệ gene tham chiếu phù hợp với nguồn gene bản địa, việc nhận diện những điểm khác biệt về di truyền và tìm kiếm gene liên quan đến các đặc tính quý sẽ chính xác hơn.

Còn theo GS. Robert Henry, Giám đốc sáng lập Liên minh Đổi mới Nông nghiệp và Thực phẩm Queensland (QAAFI), Đại học Queensland, Australia, Giảng viên liên kết tại VinUni - nhà khoa học đồng chủ trì dự án VN1K-RICE “một hệ gene duy nhất không thể đại diện cho toàn bộ sự đa dạng di truyền của một loài. Các nhà khoa học cần những hệ gene tham chiếu có quan hệ gần với nguồn vật liệu đang nghiên cứu".

GS Robert Henry nhấn mạnh rằng "với Việt Nam, việc xây dựng bộ hệ gene từ các giống lúa bản địa có ý nghĩa thiết thực, giúp nghiên cứu sát hơn với nguồn gene trong nước”.

GS. Vũ Hà Văn, Giám đốc Khoa học VIBD, nhà khoa học chủ trì VN1K-RICE
GS. Vũ Hà Văn, Giám đốc Khoa học VIBD, nhà khoa học chủ trì VN1K-RICE

"Việt Nam có nguồn gene bản địa rất đa dạng, nhưng phần lớn vẫn chưa được đọc ở cấp độ hệ gene. Thông qua AgriOmics-AI, nhóm nghiên cứu hướng tới chuyển các bộ sưu tập giống đang được lưu giữ thành dữ liệu có thể phân tích, chia sẻ và sử dụng trực tiếp trong chọn giống, áp dụng cho cả cây trồng và vật nuôi”.

Sau khi có dữ liệu hệ gene, nhóm nghiên cứu sẽ kết hợp với kết quả đánh giá đặc tính của từng giống tại ba vùng sinh thái. Các chỉ tiêu được khảo sát gồm chất lượng và dinh dưỡng của hạt gạo như độ dẻo, hương thơm, hàm lượng vi chất và protein; khả năng chịu hạn, chịu mặn, chịu nóng, chịu ngập; khả năng kháng các bệnh phổ biến trên cây lúa; đồng thời đo lượng khí nhà kính phát thải trong quá trình canh tác.

Việc kết hợp thông tin di truyền với đặc điểm thực tế của cây lúa giúp các nhà khoa học tìm ra mối liên hệ giữa gene và tính trạng. Chẳng hạn, gene nào liên quan đến hương thơm, gene nào giúp cây chịu mặn tốt hơn, hay những vùng gene nào có thể góp phần giảm phát thải khí nhà kính. Đây là cơ sở để xác định những nguồn gen có giá trị và đưa chúng vào các chương trình chọn tạo giống.

Theo các nhà nghiên cứu, giá trị ứng dụng lớn của dự án nằm ở khả năng hỗ trợ các nhà khoa học chọn tạo giống lúa mới. Khi xác định được gene gắn với những đặc tính mong muốn, nhà nghiên cứu có thể sử dụng dữ liệu DNA để sàng lọc vật liệu giống, lựa chọn những cá thể mang gene có lợi và đưa chúng vào các chương trình lai tạo.

Ví dụ, một giống lúa bản địa có khả năng chịu mặn tốt có thể mang gene hữu ích cho việc phát triển giống lúa thích ứng với vùng đất nhiễm mặn. Một giống khác có hương thơm hoặc chất lượng gạo đặc biệt có thể cung cấp nguồn gene để cải thiện chất lượng của giống đang được canh tác. Thay vì phải dựa chủ yếu vào quá trình lai tạo và đánh giá qua nhiều thế hệ, các nhà khoa học có thêm công cụ phân tích DNA để nhận diện sớm những đặc tính di truyền cần tìm.

Dự án cũng hướng tới phát triển các dòng lúa gần đẳng gene – những dòng có nền di truyền gần như giống nhau, chỉ khác biệt ở vùng gene mục tiêu. Đây là vật liệu nghiên cứu hữu ích để kiểm chứng vai trò của từng gene, đồng thời có thể được đưa vào các chương trình lai tạo. Các chỉ thị DNA được xác định từ dữ liệu hệ gene cũng hỗ trợ nhận diện, chọn lọc và xác thực những giống lúa mang đặc tính có giá trị.

Kiểm soát ô nhiễm không khí: Từ điện hóa giao thông đến quản trị bằng dữ liệu

Ô nhiễm không khí ngày càng trở thành thách thức lớn đối với các đô thị và hoạt động kinh tế. Những giải pháp tại Thổ Nhĩ Kỳ và Uzbekistan cho thấy muốn cải thiện chất lượng không khí cần kiểm soát đồng thời nhiều nguồn phát thải, từ giao thông, công nghiệp đến năng lượng và bụi, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ quan trắc, dự báo...

Việt Nam và Nga mở rộng hợp tác nghiên cứu công nghệ hạt nhân thế hệ mới

Với biên bản ghi nhớ vừa được ký giữa Vinatom với Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế trên cơ sở lò phản ứng MBIR của Nga mới đây, sẽ mở ra cơ hội để các nhà khoa học Việt Nam tiếp cận một trong những cơ sở nghiên cứu neutron nhanh có thông lượng cao nhất thế giới, qua đó tăng cường năng lực nghiên cứu vật liệu, nhiên liệu và công nghệ lò phản ứng…

COP31: Biến cam kết thành hành động, thúc đẩy lộ trình huy động tài chính khí hậu

Hội nghị lần thứ 31 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP31), dự kiến diễn ra từ ngày 9- 20/11/2026 tại Antalya (Thổ Nhĩ Kỳ), sẽ đặt trọng tâm vào nỗ lực chuyển các cam kết khí hậu thành hành động cụ thể, gắn với nguồn lực tài chính và đầu tư. Thông qua chuỗi sự kiện tại COP31, Việt Nam mong muốn truyền tải thông điệp phát triển gắn với chuyển đổi xanh và mục tiêu Net Zero vào năm 2050...

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều con số kỷ lục. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký đạt mức cao nhất kể từ năm 2009 đến nay (54,85 tỷ USD), vốn FDI thực hiện cũng đạt mức cao nhất trong 5 năm qua (24,08 tỷ USD). Cùng với sự phục hồi mạnh mẽ của sản xuất công nghiệp, bán lẻ và du lịch, nền kinh tế Việt Nam đang chứng tỏ đà tăng trưởng vững chắc…

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy