Hội thảo "Việt Nam đối với tiến trình sau Phiên INC 5.2 Thỏa thuận toàn cầu về ô nhiễm nhựa" vừa diễn ra các chuyên gia đã nhấn mạnh sự phức tạp của vấn đề và những thách thức trong giai đoạn đàm phán tiếp theo, đồng thời thu thập ý kiến đóng góp để Việt Nam có thể chủ động giải quyết các vấn đề liên quan.
Ô nhiễm nhựa được WEF xếp vào top 10 rủi ro toàn cầu nghiêm trọng nhất, gây ảnh hưởng nặng nề đến các hệ sinh thái trên cạn và dưới biển. Tại Việt Nam, lượng rác thải nhựa ước tính khoảng 8.039 tấn mỗi ngày, với mức sử dụng nhựa một lần và nhựa khó phân hủy còn cao, dẫn đến tình trạng rò rỉ rác thải nhựa ra biển.
Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm 75% lượng rác thải nhựa đại dương và loại bỏ nhựa dùng một lần tại các khu du lịch và khu bảo tồn biển.
Việt Nam đã thể hiện quan điểm của mình tại INC-5.2, nhấn mạnh sự cần thiết của hợp tác công bằng, tôn trọng sự khác biệt về trình độ phát triển giữa các quốc gia và ủng hộ cơ chế tài chính minh bạch để hỗ trợ các nước đang phát triển chuyển đổi ngành nhựa.
Tuy nhiên, Việt Nam không chỉ tham gia đàm phán mà còn chủ động triển khai các hành động cụ thể trong nước, bao gồm hoàn thiện khung chính sách, huy động nguồn lực và thúc đẩy các mô hình kinh tế tuần hoàn. Chương trình Đối tác hành động quốc gia về nhựa (NPAP) Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức tham vấn đa bên và đóng góp vào lập trường của Việt Nam.
Thỏa thuận toàn cầu về ô nhiễm nhựa cũng tạo ra cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận tài chính xanh và tín chỉ nhựa. Các quy định về giảm nhựa nguyên sinh, tăng tái chế và minh bạch chuỗi giá trị sẽ thúc đẩy đổi mới công nghệ và cải thiện quản trị môi trường. Đại diện UNDP khuyến khích doanh nghiệp chủ động hành động sớm, nắm bắt cơ hội và tham gia hợp tác công-tư để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Các chuyên gia cho rằng thỏa thuận nhựa toàn cầu sẽ tạo ra sự chuyển đổi mang tính bước ngoặt, thúc đẩy việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và quy định trong nước, mở ra cơ hội tiếp cận các nguồn tài chính, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ nâng cao năng lực cho các quốc gia đang phát triển.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 43-2025 phát hành ngày 27/10/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-43-2025.htm
Báo cáo Stern công bố cách đây 20 năm đã chỉ ra rằng chi phí không hành động trước biến đổi khí hậu lớn hơn chi phí ứng phó, đồng thời khẳng định tăng trưởng kinh tế có thể song hành với cắt giảm phát thải. Tuy nhiên, những mô hình kinh tế truyền thống vẫn đang khiến nhiều chính phủ, doanh nghiệp đánh giá thấp rủi ro khí hậu và chậm chuyển đổi…
Bên cạnh việc tăng cường năng lực cho Cục Khí tượng Thủy văn, Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai; giai đoạn 2026-2028 sẽ thí điểm các mô hình nâng cao năng lực phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro thiên tai tại Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Đà Nẵng và Đắk Lắk. Các cơ quan sẽ xây dựng các mô hình cảnh báo lũ, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất chi tiết đến cấp xã...
Một số làng nghề, nút giao thông có mật độ lưu thông đông đúc trên địa bàn Hải Phòng có chất lượng không khí không đạt quy chuẩn…
Thị trường vận tải sà lan điện tại Việt Nam đang chứng kiến một bước chuyển mình quan trọng. Dự án sà lan điện sử dụng năng lượng tái tạo với sự hợp tác của 03 doanh nghiệp: CMA CGM, Nike và Gemadept đánh dấu cột mốc trong nỗ lực giảm phát thải carbon trong chuỗi cung ứng. Đây là dự án sà lan chạy hoàn toàn bằng điện đầu tiên tại Việt Nam…
Nghị định 396/2026/NĐ-CP được ban hành nhằm làm rõ quy trình phân cấp cấp tài khoản hệ thống tín chỉ carbon quốc gia và bổ sung thủ tục cho các dự án carbon rừng, có hiệu lực từ ngày 12/12/2026...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.