UBND TP. Hồ Chí Minh vừa có Tờ trình số 611/TTr-UBND gửi Ban Thường vụ Đảng ủy UBND Thành phố về chủ trương ban hành Nghị quyết của HĐND Thành phố quy định về lộ trình thực hiện chuyển đổi và chính sách hỗ trợ chuyển đổi phương tiện vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt sử dụng điện, năng lượng xanh trên địa bàn.
Theo UBND TP. Hồ Chí Minh, nghị quyết sẽ là cơ sở để Thành phố triển khai lộ trình chuyển đổi dần các phương tiện vận tải công cộng từ nhiên liệu hóa thạch sang điện và năng lượng xanh, phù hợp với định hướng phát triển giao thông bền vững, giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ môi trường đô thị.
Đến năm 2030, TP. Hồ Chí Minh sẽ hoàn tất chuyển đổi 100% xe buýt sử dụng điện hoặc năng lượng xanh, sớm hơn 20 năm so với lộ trình chung của Chính phủ. Đây là một phần trong Đề án tăng cường vận tải hành khách công cộng gắn với kiểm soát phương tiện cơ giới cá nhân và Đề án kiểm soát khí thải phương tiện giao thông.
Giai đoạn 2026 - 2030, kinh phí triển khai chuyển đổi phương tiện xe buýt sử dụng năng lượng xanh dự kiến 7.577 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách thành phố chi 4.667 tỷ đồng, chưa bao gồm 822,4 tỷ đồng hỗ trợ lãi vay đầu tư phương tiện, trạm sạc giải ngân đến năm 2036. Tổng nguồn kinh phí trợ giá hàng năm cho vận tải công cộng ước khoảng 16.495,7 tỷ đồng.
Song song với việc chuyển đổi xe buýt, Thành phố đẩy nhanh tiến độ các dự án metro, đường sắt nhẹ (LRT) và đề án chuyển đổi xe hai bánh từ xăng sang điện cho xe công nghệ, giao hàng; trong đó chú trọng chính sách hỗ trợ mua xe máy điện mới và thu hồi phương tiện cũ.
Bên cạnh đó, Thành phố cũng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trạm sạc, dịch vụ cho thuê pin, phát hành trái phiếu xanh, bán tín chỉ carbon, áp dụng mô hình đối tác công – tư (PPP) cho xây dựng trạm sạc công cộng quy mô lớn.
Hiện nay, toàn Thành phố có khoảng 2.386 xe buýt hoạt động trên 176 tuyến, gồm 627 xe buýt điện (26,3%) và 451 xe buýt sử dụng khí nén thiên nhiên CNG (17,9%).
Theo lộ trình, đến năm 2030, TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu giảm 90% lượng chất ô nhiễm không khí gia tăng từ giao thông, tỷ lệ xe máy điện đạt 15% – 20%, ô tô điện đạt 5% – 10%, và vận tải hành khách công cộng đáp ứng 15% nhu cầu đi lại. Đến năm 2050, hướng đến 100% phương tiện sử dụng điện hoặc năng lượng xanh, tiến tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0.
Báo cáo Stern công bố cách đây 20 năm đã chỉ ra rằng chi phí không hành động trước biến đổi khí hậu lớn hơn chi phí ứng phó, đồng thời khẳng định tăng trưởng kinh tế có thể song hành với cắt giảm phát thải. Tuy nhiên, những mô hình kinh tế truyền thống vẫn đang khiến nhiều chính phủ, doanh nghiệp đánh giá thấp rủi ro khí hậu và chậm chuyển đổi…
Bên cạnh việc tăng cường năng lực cho Cục Khí tượng Thủy văn, Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai; giai đoạn 2026-2028 sẽ thí điểm các mô hình nâng cao năng lực phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro thiên tai tại Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Đà Nẵng và Đắk Lắk. Các cơ quan sẽ xây dựng các mô hình cảnh báo lũ, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất chi tiết đến cấp xã...
Một số làng nghề, nút giao thông có mật độ lưu thông đông đúc trên địa bàn Hải Phòng có chất lượng không khí không đạt quy chuẩn…
Thị trường vận tải sà lan điện tại Việt Nam đang chứng kiến một bước chuyển mình quan trọng. Dự án sà lan điện sử dụng năng lượng tái tạo với sự hợp tác của 03 doanh nghiệp: CMA CGM, Nike và Gemadept đánh dấu cột mốc trong nỗ lực giảm phát thải carbon trong chuỗi cung ứng. Đây là dự án sà lan chạy hoàn toàn bằng điện đầu tiên tại Việt Nam…
Nghị định 396/2026/NĐ-CP được ban hành nhằm làm rõ quy trình phân cấp cấp tài khoản hệ thống tín chỉ carbon quốc gia và bổ sung thủ tục cho các dự án carbon rừng, có hiệu lực từ ngày 12/12/2026...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.